Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập254
  • Thành viên online2
  • Máy chủ tìm kiếm53
  • Khách viếng thăm199
  • Hôm nay53,822
  • Tháng hiện tại1,937,399
  • Tổng lượt truy cập36,702,627

Xử trí chảy máu sau cắt amidan- bệnh viện 103

1. Một số cơ sở giải phẫu học của amydan.

1.1. Hố Amydan: 

Amydan nằm gọn trong một cái hố của màn hầu gọi tên là hố amydan. Hố amydan có 3 mặt được tạo thành bởi 3 cơ bắp : cơ của trụ trước (tức cơ lưỡi-màn hầu), cơ của trụ sau (tức cơ họng-màn hầu) và phần ngòai cùng là cơ khít họng. Phẫu thuật cắt amydan không được gây tổn thương rách nát cho 3 cơ này.

1.2. Khoang quanh Amydan: 

Giữa khối amydan và hố amydan là một khoang tổ chức liên kết rất lỏng lẻo và dễ dàng bóc tách được gọi tên là khoang quanh amydan. Khoang tổ chức liên kết dễ dàng bóc tách này có thể ví như khoang tổ chức dễ bóc tách nằm giữa múi cam với vỏ cam. Thủ thuật cắt amydan sẽ lợi dụng khoang dễ bóc tách này (còn gọi là vỏ amydan) dễ bóc tách làm rời khối amydan ra khỏi thành họng.

1.3. Chân cuống amydan và động mạch Amydan: 

Amydan có một chân cuống gần phía cực dưới với mạch máu chính của nó là động mạch amydan (nhánh của động mạch khẩu cái đi lên). Trong thủ thuật này phải chú ý đến chân cuống, và cấm máu cuống động mạch amydan là một thì quan trọng của phẫu thuật. Thông thường nếu tiêm tê đốt chân cuống này rồi cắt gọn bằng thòng lọng thì  ít chảy máu.

1.4. Các khoang họng kế cận Amydan và các mối liên hệ mạch máu, thần kinh vùng cổ:

 Cần nhớ rằng cơ khít họng ở vòng ngòai của hố amydan là giới hạn của phẫu thuật, nếu vượt qua đó sẽ gặp tất cả những mối nguy hiểm lớn: do chạm thương vào các động mạch và tĩnh mạch lớn, vào các dây thần kinh cổ, vào các khoang liên kết đi ra quanh cổ…

2. Những nguyên nhân của chảy máu.

2.1. Do sai lầm về chỉ định: 

Cắt amydan khi viêm họng còn đang diễn biến, một bệnh nhân có bệnh máu, đang có kinh nguyệt.

2.2. Do sai lầm về kỹ thuật:

  • Cắt còn sót.
  • Làm đứt các trụ sau, trụ trước tức là các cơ màn hầu, khi cơ bị đứt mà không được khâu lại, thường chảy máu dai dẳng tuy không chảy mạnh.
  • Tai hại nguy hiểm là chọc thủng thành bên họng gồm cân và cơ khít họng  làm tổn thương các động mạch phía trong thành họng (động mạch họng bên, động mạch khẩu cái đi lên, động mạch mặt…).
  • Cần phải chỉ trích những kỹ thuật nguy hiểm như cắt amydan bằng kìm bấm, kỹ thuật này không đi vào khoang bóc tách đã quy định mà tùy tay người bấm cắt, thường đi quá thành bên họng, vào điểm nguy hiểm ở phía sau amydan là động mạch cảnh trong. Bình thường động mạch này ở cách trụ sau 15 mm, nhưng khi bệnh nhân quay đầu ưỡn cổ hoặc đang phản xạ nôn co thắt họng thì nó đi đến rất gần trụ sau và cách độ 5 mm. Nguy hiểm chết người đã từng xảy ra trong hoản cảnh vị trí, tư thế, của bệnh nhân với phương pháp kìm bấm. Hiện nay với phương pháp bóc tách, tai nạn này không còn nữa.
  • Ở cực dưới, nguy hiểm là do động mạch cảnh ngoài và đặc biệt từ các nhánh của nó: động mạch mặt uốn vòng cung cách cực dưới độ 10 mm và sinh ra động mạch amydan. Chính do thương tổn các động mạch khẩu cái đi lên và động mạch amydan vùng chân cuống đã gây những chảy máu nặng, nhiều khi phải thắt động mạch cảnh ngoài.
  • Ở cực trên còn một điểm hay chảy máu, đó là chân của lưỡi gà: trong khi tách trụ trước, nếu làm rách quá nhiều trụ sát đường trung vị, sẽ có thể gây thương tổn động mạch khẩu cái đi xuống (nhánh của động mạch hàm trong).

Để tránh những sai sót trên, cần phải đi đúng vào khoang bóc tách, bộc lộ thật kỹ cuống amydan và khi đặt thòng lọng nên để đúng vào cuống chứ không được ngoạm vào thành ngoài của họng (có các động mạch) rồi vặn thòng lọng rất từ từ, ít một (tác dụng làm nghiền đứt, không phải tác dụng cắt đứt).

3. Xử trí chảy máu tại chỗ.

Nên đi từ những phưông pháp đơn giản rồi mới dùng tới phương pháp phức tạp.

3.1. Phương pháp đơn giản: 

Có tác dụng với những rỉ máu do mao mạch (trong chảy máu hậu phẫu).

  • Nước đá cục: cho bệnh nhân ngậm từng cục nhỏ, nuốt hoặc nhổ đi, đồng thời cho vào túi ni lông chườm vùng cạnh cổ.
  • Dùng bông cầu tẩm một dung dịch có tác dụng cầm máu: nước oxy già, acid cromic 10%, antipyrin 20%) rồi ấn chặt vào hố amydan đúng điểm chảy máu trong 5-10 phút.
  • Tại chỗ trong hố mổ: tiêm 1 ml novocain 1% có pha adrenalin nhằm vào đúng chỗ rỉ máu để ép các mao mạch lại có tác dụng làm hết chảy rỉ máu.

3.2. Phương pháp phức tạp có sử dụng dụng cụ:

Cặp đơn thuần: dùng kẹp Kocher không mấu dài 17 cm kẹp đúng nơi chảy rỉ máu, giữ nguyên trong một giờ rồi bỏ ra. Nếu vẫn chảy thì phải buộc chỉ.

Buộc chỉ mạch máu: phương pháp này được áp dụng một cách đặc hiệu cho chảy máu do động mạch hoặc tĩnh mạch, chảy máu ở cực trên hay ở cuống amydan, trong khi phẫu thuật hay hậu phẫu. Phải có phụ mổ giúp: dùng kẹp Kocher không mấu kẹp mạch máu lại. Lấy chỉ trắng làm thành một nút thòng lọng, đưa thòng lọng đi qua kẹp Kocher, tới tận đầu kẹp chỗ cầm máu.

Một tay cố định đầu chỉ bằng một kẹp Kocher thứ hai, một tay kia bắt đầu thắt nút thòng lọng trong khi phụ mổ nâng đầu kẹp mạch máu lên để hứng lấy nút chỉ. Phẫu thuật viên thắt chặt bằng 2 nút chỉ và ngay sau đó phụ mổ tháo bỏ kẹp ra. Tiếp đó, dùng kéo cắt ngắn chỉ buộc lại. Sau 7 ngày mối chỉ sẽ tự rụng ra.

Đặt kẹp nén Boisviel: có tác dụng đối với những chảy máu ở cuống amydan và ở chỗ sâu rãnh lưỡi amdan (khó buộc chỉ).

Trước tiên lấy một quả bông cầu có bọc gạc to bằng đầu ngón tay cái đặt vào trong ổ của quả nén (quả bông không đặt quá chặt nhưng phải to để che phủ quả nén). Đặt quả nén có bông cầu vào trong hố amyđan, hướng đúng vào điểm chảy, đồng thời đặt cái gọng ngoài có hình cái vòng tì vào góc hàm, nơi này có đệm một miếng bông gạc. Sau đó vặn vít điều khiển hai gọng khép lại làm cho quả nén trong hố amydan đè chặt vào chỗ chảy máu. Chỉ xiết vừa đủ để cầm máu, không xiết quá mạnh sẽ gây chấn thương (sưng, nề, đỏ, đau) cho vùng góc hàm.

Sau 2 tiếng nới lỏng bớt ra. Sau 4-6 tiếng tháo kẹp nén, gỡ nó ra khỏi cục bông cầu, bỏ kẹp đè, nhưng vẫn giữ nguyên cục bông cầu để tại chỗ thêm 18 giờ nữa (vì vậy chú ý không được nhét quá chặt quả bông cầu vào quả nén).

Làm đông điện: (électro-coagulation) dùng kẹp Kocher kẹp đúng chỗ chảy máu. Đặt cực điện bất hoạt vào một bên tay bệnh nhân, rồi di cực điện hoạt tính của máy đông điện vào kẹp Kocher : tổ chức ở đầu kẹp tức khắc sẽ bị cháy xám đen và mạch máu bị đông lại. Chú ý : ngoài điểm chảy máu, không được để kẹp Kocher chạm vào miệng bệnh nhân bất cứ điểm nào, nếu không sẽ gây bỏng.

Khâu chập hai trụ lại theo phương pháp của Tarneaud , khâu 2 hoặc 3 mũi chỉ (cagut hoặc chỉ trắng) xuyên từ trụ sau ra trụ trước rồi buộc chập hai trụ lại, giữa hai trụ có nhét một đoạn bấc có bề ngang 1 cm (hoặc một mảnh xốp tự tiêu gelaspon gelfoam có tẩm kháng sinh). Các mũi khâu ở cách bờ tự do của trụ khoảng 5 mm. Nếu đặt bấc thường và khâu bằng chỉ thường thì 24 giờ sau rút bỏ bấc và 3 ngày sau cắt bỏ chỉ. Nếu dùng chỉ catgut và xốp tự tiêu thì không phải can thiệp gì thêm.

Thắt động mạch cảnh ngoài hoặc nút mạch: phẫu thuật này chỉ nên được áp dụng khi các cách cầm máu nói trên đều đã thất bại.

4. Xử trí toàn thân.

  • Tiêm thuốc tác dụng tăng cường đông máu cho toàn thân: Transamin, vitamin K, sistonal, thrombase, thromboplastin, adrenoxyl… K-thrombyl, fibrinogen, hemocaprol, acid aminocaproic.
  • Tiêm thuốc trợ tim.
  • Truyền dịch mặn, ngọt.
  • Truyền máu tươi nếu thấy cần thiết.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây