Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập395
  • Máy chủ tìm kiếm79
  • Khách viếng thăm316
  • Hôm nay47,294
  • Tháng hiện tại1,930,871
  • Tổng lượt truy cập36,696,099

Nâng ngực

 

Hình ảnh thực tế

Nâng ngực là gì?

Nâng ngực là phương pháp phẫu thuật giúp tăng kích thước vòng 1. Khá nhiều phụ nữ bị ngực nhỏ, teo lép muốn cải thiện hình dáng ngực để hấp dẫn và tự tin hơn, vì thế kỹ thuật thẩm mỹ này ngày càng phổ biến và được ưa chuộng.

Thông thường quy trình nâng ngực được thực hiện bằng cách sử dụng túi độn ngực. Túi độn có thể là túi gel silicone hoặc túi nước muối với nhiều hình dáng và kích cỡ size khác nhau.

Ngoài ra nâng ngực cũng có thể được thực hiện bằng phương pháp cấy mỡ ngực (nâng ngực bằng mỡ tự thân), trong đó mỡ sẽ được hút ra từ một vùng trên cơ thể bệnh nhân (như bụng hoặc đùi) bằng kỹ thuật hút mỡ, sau đó tiêm vào ngực. Trong một số trường hợp bác sĩ có thể kết hợp đặt túi độn với cấy mỡ ngực vì cấy thêm mỡ sẽ giúp túi độn trông tự nhiên hơn.

Quá trình mang thai cho con bú, giảm cân, hoặc lão hóa do tuổi tác gây ảnh hưởng đến dáng ngực của phụ nữ. Một số tình trạng ngực khiến phụ nữ có mong muốn can thiệp thẩm mỹ để cải thiện, bao gồm:

  1. Ngực teo lép
  2. Ngực chảy xệ
  3. Ngực vừa teo lép vừa chảy xệ
  4. Ngực quá to, phì đại

Tùy từng tình trường hợp từ 1 đến 4 bác sĩ sẽ có chỉ định phù hợp để có được dáng ngực đẹp hoàn hảo:

  • Trường hợp 1: Nâng ngực sử dụng túi độn hoặc mỡ tự thân
  • Trường hợp 2: Treo sa trễ
  • Trường hợp 3: Nâng ngực kết hợp treo sa trễ
  • Trường hợp 4: Thu nhỏ ngực

Treo sa trễ (nâng chảy xệ, treo ngực sa trễ) là phẫu thuật nâng mô vú chảy xệ lên cao, thu gọn quầng vú và đưa núm vú trở lại vị trí giữa bầu ngực.

Thu nhỏ ngực là phẫu thuật cắt bớt da vú và mô vú để xử lý tình trạng ngực quá bự, phì đại.

Thuật ngữ tiếng Anh: Breast augmentaion

Các loại túi độn ngực và cách lựa chọn

Hiện nay có nhiều hãng túi độn ngực khác nhau, nhiều chủng...

Túi gel silicone và túi nước muối

Những phụ nữ có nhu cầu nâng ngực hiện nay có thể lựa chọn giữa ba loại túi độn:

  • Túi gel silicone gắn kết (được FDA cấp phép sử dụng vào năm 2006)
  • Túi nước muối truyền thống (một khoang) 
  • Túi nước muối thế hệ mới (hai khoang)

Mỗi loại túi độn có những ưu và nhược điểm riêng cần cân nhắc nhưng trên thực tế, cả ba loại đều có thể đem lại sự hài lòng cho người sử dụng sau nâng ngực.

Về túi gel silicone thì hiện nay đã có loại túi độn gắn kết với những ưu điểm vượt trội so với loại túi độn chứa gel silicone lỏng thế hệ cũ. Túi gel silicone kết dính mới được sản xuất bằng chất liệu gel ở trạng thái nửa rắn, nhờ đó ngay cả khi lớp vỏ bên ngoài của túi độn bị thủng thì lượng gel silicone bên trong cũng không dễ rò rỉ ra ngoài như túi gel silicone lỏng.

Quá trình thiết kế và sản xuất lớp vỏ bên ngoài cũng đã được cải tiến rất nhiều nên nguy cơ lớp vỏ bị thủng sẽ thấp hơn đáng kể. Những cải tiến này khiến cho túi gel silicone trở thành lựa chọn hấp dẫn hơn nhiều khi xem xét về tính dài hạn.

Một vấn đề cũng rất quan trọng nữa cần phải cân nhắc là khả năng cảm nhận túi độn từ bên ngoài, tức là bạn có cảm thấy được túi độn hay không khi bạn hoặc người khác chạm tay lên ngực. Cả túi silicone gel, túi nước muối đời mới và túi nước muối thông thường đều rất mềm. Tuy nhiên, hầu hết các bác sĩ và cả bệnh nhân đều cho rằng túi gel silicone cho cảm giác tự nhiên hơn nhiều so với túi nước muối, đặc biệt là ở những người có thể tích ngực tương đối nhỏ (A cup đến B cup), tiếp đến là túi nước muối thế hệ mới.

Bởi vì nước muối không có độ đặc như gel silicone nên cạnh của túi nước muối truyền thống thường bị gập, dễ dàng sờ thấy hơn ở những người có thể tích ngực nhỏ. Bạn sẽ hình dung điều này dễ dàng hơn khi sờ thử các loại túi độn trong buổi tư vấn với bác sĩ.

Như đã nói ở trên, sự khác biệt này có rõ rệt sau phẫu thuật hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố: lượng mô vú tự nhiên ban đầu và kích cỡ của túi độn được sử dụng. Túi gel silicone sẽ tạo cảm giác tự nhiên hơn nhiều cho những bệnh nhân có thân hình mảnh mai và kích thước ngực A cup trước khi phẫu thuật, vì những người như vậy thường có ít mô mềm dưới da và mô vú để che phủ lên túi độn. Do đó, ở những người này, túi nước muối thường rất dễ bị cảm nhận qua da và thậm chí còn có thể nhìn thấy từ bên ngoài - đặc biệt là ở bên cạnh của vú, nơi có lượng mô che phủ túi độn mỏng nhất.

Sự khác biệt về cảm giác giữa túi nước muối và túi gel silicone sẽ ít rõ rệt hơn ở những người có thân hình đầy đặn hơn hơn và kích thước ngực trước phẫu thuật là B cup đến C cup. Ở những người này thì ngay cả túi nước muối cũng sẽ không bị lộ và có cảm giác hoàn toàn tự nhiên. Tóm lại, việc túi độn có bị lộ ngay không phụ thuộc rất nhiều vào lượng mô vú tự nhiên che phủ trên túi độn.

Một sự khác biệt lớn nữa giữa túi gel silicone và túi nước muối thông thường là hậu quả xảy ra khi vỏ túi độn bị hỏng. Nếu một túi nước muối thông thường bị vỡ, bên ngực đó sẽ nhanh chóng bị xẹp khi cơ thể hấp thụ nước muối, khiến cho hai bê ngực bị chênh lệch rõ rệt. Do đó lúc này, bệnh nhân sẽ phải tiến hành thay thế túi độn mới.

Khi túi gel silicone bị rò rỉ, ngực sẽ không bị thay đổi về vẻ bề ngoài hoặc cảm giác, vì cơ thể không hấp thụ gel silicone, thậm chí với các túi gel silicone gắn kết thì gần như toàn bộ lượng gel vẫn sẽ nằm bên trong vỏ. Tuy nhiên, cũng chính vì không có dấu hiệu nào bộc lộ ra bên ngoài nên cách duy nhất để xác định xem túi gel silicone có bị rò rì hay vỡ không là tiến hành chụp cộng hưởng từ (MRI).

Thực tế, FDA cũng khuyến cáo rằng phụ nữ sau khi nâng ngực bằng túi gel silicone nên chụp MRI định kì để theo dõi tình trạng của túi độn, ngoài ra khi túi gel silicone bị vỡ thì nên tháo bỏ và thay thế túi mới.

Mặc dù không hoàn toàn được tự nhiên giống như túi gel silicone kết dính nhưng loại túi nước muối thế hệ mới (Structured Ideal Imlant) khó bị sờ thấy và cho cảm giác tự nhiên hơn so với túi nước muối một khoang thông thường. Ngoài ra, loại túi nước muối này còn có ưu điểm nổi trội hơn so với túi gel silicone là không cần chụp MRI để phát hiện sự cố của túi độn. Nếu khoang nhỏ bên ngoài của túi độn bị rò rỉ và hết nước muối thì túi độn sẽ mất đi một phần thể tích tương đối nhỏ trong tổng thể tích, do đó, một bên ngực sẽ chỉ hơi nhỏ hơn so với bên còn lại, vì vậy không cần phải thay thế túi độn ngay lập tức. Còn nếu khoang lớn hơn bên trong bị rò rỉ thì bên ngực bị ảnh hưởng sẽ nhỏ hơn nhiều so với phía còn lại và việc thay thế túi độn phải được tiến hành càng sớm càng tốt.

Túi vỏ trơn và túi vỏ nhám

Việc lựa chọn phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm hình dạng của ngực trước khi phẫu thuật, các hoạt động thường ngày, thể tích mà bạn muốn và mục tiêu thẩm mỹ của bạn.

Hiện nay, tất cả các loại túi nước muối đều có vỏ trơn, vì nếu có vỏ nhám thì tỉ lệ xảy ra sự cố sẽ cao hơn và do đó túi nước muối vỏ nhám không còn được sản xuất nữa. Mặt khác, với túi gel silicone thì bề mặt nhám hay trơn đều không ảnh hưởng đến tỉ lệ thành công hay thất bại của nâng ngực. Loại túi độn mới nhất trên thị trường hiện tại là túi nước muối Ideal Implant; loại túi nước muối này có vỏ trơn và được thiết kế có hai khoang chứa nước muối riêng biệt với vách ngăn (bằng chất liệu silicone trơn) giữa các khoang.

Vì vậy, nếu bạn chọn túi nước muối truyền thống hoặc túi nước muối loại mới thì túi bạn chỉ có một lựa chọn là vỏ trơn. Nếu bạn chọn túi gel silicone hình giọt nước thì túi độn sẽ chỉ có vỏ nhám. Còn nếu bạn thích túi gel silicone hình tròn – loại túi độn phổ biến nhất trên thế giới hiện nay – thì bạn sẽ cần lựa chọn giữa vỏ trơn và vỏ nhám.

Túi độn vỏ nhám ban đầu được thiết kế nhằm giảm nguy cơ co thắt bao xơ. Mặc dù các tài liệu phẫu thuật thẩm mỹ trong suốt nhiều năm đều chứng minh là không hề có sự khác biệt đáng kể nào về tỉ lệ co thắt bao xơ giữa các túi độn vỏ trơn và nhám, nhưng một số dữ liệu gần đây từ các công ty sản xuất túi độn lại cho thấy rằng với một số túi độn vỏ nhám thì tỉ lệ co thắt bao xơ sẽ thấp hơn một chút so với túi độn vỏ trơn. Tuy nhiên, nếu có thì sự khác biệt về nguy cơ co thắt bao xơ này cũng chỉ rất nhỏ. Do đó, các khách hàng không cần bận tâm đến điều này khi lựa chọn kết cấu của vỏ túi độn. Hơn nữa, trong quá trình phẫu thuật và chăm sóc hậu phẫu, bác sĩ sẽ có những cách để giảm nguy cơ co thắt bao xơ hiệu quả hơn nhiều so với việc lựa chọn vỏ túi độn.

Cho đến nay, hầu hết các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đều thích sử dụng túi gel silicone vỏ trơn. Trước đây, túi nước muối hình tròn vỏ trơn được sử dụng trong suốt 14 năm (1992 - 2006) do lệnh cấm của FDA đối với túi gel silicone, mãi đến năm 2006 thì FDA mới cho phép sử dụng loại túi gel silicone gắn kết thế hệ mới. Mặc dù có cả vỏ nhám và vỏ trơn nhưng túi nước muối vỏ nhám đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, một trong số đó là nguy cơ xẹp cao, do đó loại túi độn này không còn được ưu chuộng nữa. Hơn nữa, khi FDA dỡ bỏ lệnh cấm vào năm 2006, hầu hết các bác sĩ thẩm mỹ đều đã chuyển sang sử dụng túi gel silicone bề mặt trơn.

Nên chọn túi vỏ trơn hay vỏ nhám?

Ưu điểm của túi gel silicone gắn kết hình tròn là ở chỗ lượng gel bên trong có độ kết dính, tức là các phân tử có sự liên kết với nhau (khác với gel silicone lỏng của túi gel silicone đời cũ) nhưng không kết dính quá chắc như túi độn gummy bear, điều này khiến cho chúng có cảm giác mềm mại, tự nhiên như ngực thật và là lựa chọn phổ biến nhất đối với nhiều người.

Ở những người có mô vú mỏng thì túi độn vỏ trơn sẽ ít khi bị nhìn thấy hoặc cảm nhận từ bên ngoài hơn so với túi độn vỏ nhám. Tuy nhiên, sự khác biệt này sẽ không quá quan trọng nếu như túi độn được đặt bên dưới cơ ngực.

Một sự khác biệt lớn giữa túi độn vỏ nhám và vỏ trơn là sự tương tác giữa vỏ túi độn với bao xơ mà cơ thể hình thành nên xung quanh túi độn hay bất cứ vật thể nào được vào cơ thể từ bên ngoài. Bao xơ này không bám vào bề mặt trơn của túi độn, vì vậy túi độn vỏ trơn sẽ có thể dịch chuyển bên trong khoang chứa, điều này sẽ giúp mô phỏng được đặc điểm của bộ ngực tự nhiên, nhưng chính sự dịch chuyển này lại có nhược điểm là có thể gây ra các biến chứng như lồi đáy vú, túi độn lệch sang bên cạnh theo thời gian.

Túi độn vỏ nhám được thiết kế để tăng sự cọ sát giữa vỏ túi độn với bao xơ xung quanh hoặc thậm chí khiến cho bao xơ bám lấy bề mặt của túi độn. Điều này sẽ giúp cố định vị trí của túi độn và giảm nguy cơ thay đổi vị trí theo thời gian, ngoài ra cũng có thể làm giảm nguy cơ co thắt bao xơ. Tuy nhiên, loại túi độn này lại có thể làm tăng nguy cơ đọng dịch sau phẫu thuật (dịch tích tụ lại xung quanh túi độn).

Mặc dù cùng có vỏ nhám nhưng túi độn của ba công ty sản xuất vẫn sẽ có những sự khác biệt nhất định. Túi độn ít nhám nhất (ít những nốt sần trên bề mặt) sẽ có sự tương tác với bao xơ thấp nhất, nhưng bù lại, nguy cơ đọng dịch huyết thanh cũng ở mức tối thiểu. Các túi độn có độ nhám cao thì sẽ có mức độ bám lấy bao xơ cao nhất nhưng nguy cơ đọng dịch cũng tăng lên theo. Các loại túi độn vỏ quá nhám thường không được lựa chọn phổ biến.

Ở những người mà da vú vẫn có độ săn chắc và đủ lượng mô vú để che phủ lên túi độn thì túi độn vỏ nhám là một lựa chọn tuyệt vời. Còn đối với những người có lớp mô vú mỏng hoặc khi da đã chùng nhão thì nên chọn túi độn tròn vỏ nhẵn. Lí do là vì nếu ngực là hơi chảy xệ thì túi độn tròn sẽ có thể ổn định dần vào vị trí dưới vú, cho phù hợp với hình dạng ngực tự nhiên trong khi túi độn vỏ nhám thường sẽ nằm ở vị trí cao trên thành ngực, khiến bộ ngực không tự nhiên.

Ngoài ra, túi độn vỏ trơn cũng thường được lực chọn nhiều hơn cho những người cần nâng ngực chảy xệ tại thời điểm đặt túi độn bởi với tình trạng da chảy xệ và mô vú mỏng thì nguy cơ bị lộ túi độn sẽ cao hơn nếu dùng túi độn vỏ nhám.

Nếu tìm hiểu về phương pháp nâng ngực bằng túi độn thì chắc hẳn bạn đã đọc qua về một dạng ung thư hạch bạch huyết gọi là ALCL - được biết là có thể xảy ra ở một số ít người đã nâng ngực bằng túi độn. Mặc dù bệnh ung thư này rất hiếm gặp và có thể điều trị được nhưng nguy cơ xảy ra ở những trường hợp có túi độn vỏ nhám, đặc biệt là túi độn vỏ nhám đời cũ có vẻ cao hơn so với túi độn vỏ trơn. Tuy nhiên, xác suất rủi ro này vẫn rất thấp và còn có thể là do một số nguyên nhân khác ví dụ như sự xâm nhập của vi khuẩn và nhiễm trùng nên vẫn có thể chọn túi độn vỏ nhám nếu cần thiết. Nếu như quá trình phẫu thuật được thực hiện với các biện pháp phòng ngừa như dùng kháng sinh, đưa túi độn qua phễu vô trùng, không sử dụng đường rạch quanh quầng vú,… thì nguy cơ mắc ALCL có thể gần như bằng 0%.

Khi lựa chọn túi độn, ngoài quan tâm đến kết quả ngay sau khi phẫu thuật, bạn còn cần cân nhắc đến kết quả và tính thẩm mỹ về lâu dài sau này. Ví dụ, nếu bạn là người thường xuyên hoạt động thể chất thì nên lựa chọn túi độn vỏ nhám vì như vậy, túi độn có thể ổn định ở vị trí trong khi vận động.

Kích cỡ túi độn

Kích cỡ thực tế của một túi độn ngực được đo bằng cc.

Hiệu ứng nâng ngực của mỗi túi độn sẽ đều khác nhau khi dùng cho những người khác nhau vì còn liên quan đến kích thước ngực trước phẫu thuật và vóc dáng cơ thể. Một bệnh nhân cao to, vai rộng có ngực cỡ A-cup có thể cần túi độn 400cc để đạt được kích thước C - cup sau phẫu thuật, trong khi bệnh nhân thấp hơn với ngực B - cup có thể chỉ cần túi độn 200cc để đạt được kích thước ngực C - cup.

Mỗi bệnh nhân sẽ phù hợp với một khoảng thể tích và độ nhô túi độn cụ thể, nếu sử dụng túi độn có thể tích vượt qua khoảng đó thì bộ ngực sẽ trở nên không tự nhiên. Do đó, việc lấy các số đo của ngực bao gồm đường kính đáy vú, độ dày mô ở nửa trên và mức độ căng da ở nửa dưới có tầm quan trọng rất lớn.

Trong quá trình tư vấn, bệnh nhân sẽ có cơ hội thử các kích cỡ túi độn khác nhau để biết được sự thay đổi về đường kính đáy, độ nhô và thể tích. Túi độn mẫu sẽ được đặt trong một chiếc áo ngực mềm, không độn để bệnh nhân có thể hình dung sơ qua về độ nhô của bộ ngực sau mổ. Ngoài ra, các mẫu vú bằng gel silicone lõm ở mặt sau cũng có thể được sử dụng để mô phỏng hình dạng của bộ ngực sau khi thêm một lượng thể tích nhất định. Đây là những cách rất hữu ích để bệnh nhân có thể xác định được thể tích túi độn phù hợp.

Khi mục tiêu là một bộ ngực tự nhiên, bệnh nhân sẽ tiếp tục được thử các túi độn với thể tích và độ nhô khác nhau trong phòng mổ. Sau khi khoang chứa túi độn được tạo, mẫu túi độn vô trùng có thể được đặt vào khoang chứa và nửa trên bàn mổ được nâng lên để bác sĩ có thể đánh giá hình dạng của ngực ở tư thế ngồi thẳng. Các mẫu túi độn này không chỉ khác nhau về kích cỡ mà về độ nhô (thấp, trung bình, trên trung bình, cao, rất cao). Các mẫu thử được bơm sẵn gel silicone sẽ được sử dụng cho các trường hợp nâng ngực bằng túi gel silicone, còn các trường hợp nâng ngực bằng túi nước muối thì sẽ được thử với các mẫu túi có thể bơm phồng khi đưa vào cơ thể. Các mẫu thử này đặc biệt hữu ích trong các trường hợp cần cải thiện sự không cân đối giữa hai bên ngực – khi mà phải dùng đến hai túi độn có kích thước/độ nhô khác nhau.

Bằng cách sử dụng các mẫu túi độn trong buổi tư vấn trước phẫu thuật và cả trong khi phẫu thuật để xác định lại chính xác độ nhô cũng như thể tích phù hợp, bệnh nhân sẽ có được kết quả tự nhiên, gần nhất với mục tiêu đề ra.

Vị trí đặt túi độn: dưới cơ ngực hay trên cơ ngực?

Có ba vị trí để tạo khoang chứa túi độn: 

  • Subpectoral (dưới cơ ngực)
  • Submammary (trên cơ ngực)
  • Subfascial (cũng giống như vị trí trên cơ nhưng túi độn nằm dưới lớp mô liên kết của bó cơ)

Ở vị trí dưới cơ, cơ ngực lớn sẽ được nâng lên từ thành ngực sao cho một phần của túi độn nằm phía dưới cơ. Ở vị trí subfascial, chỉ lớp mô liên kết bên ngoài của cơ ngực lớn được nâng lên, do đó túi độn nằm trên cơ ngực và nằm dưới lớp mô liên kết. Ở vị trí trên cơ, cả cơ ngực và lớp mô liên kết đều không bị ảnh hưởng và khoang chứa túi độn được tạo ngay phía dưới tuyến vú (trên cơ ngực).

Hiện nay vị trí dưới cơ được sử dụng phổ biến nhất vì có nhiều ưu điểm. Tiếp theo là vị trí đặt trên cơ và túi độn rất ít khi được đặt bên dưới lớp mô liên kết của cơ ngực. Trên thực tế, vị trí trên cơ ngực hay dưới lớp mô liên kết của cơ ngực cũng không có sự khác biệt nào đáng kể về cả mặt thẩm mỹ hay chức năng.

“Dưới cơ” là một thuật ngữ dễ gây hiểu nhầm, bởi trong hầu hết các trường hợp, không phải toàn bộ túi độn đều nằm dưới cơ. Khi tiến hành phẫu thuật, cơ ngực lớn được tách khỏi thành ngực sao cho chỉ có một phần hoặc một nửa trên của túi độn được che phủ bởi cơ ngực, trong khi nửa bên dưới của túi vẫn được coi là nằm dưới tuyến vú. Tuy nhiên, cơ ngực lớn vẫn giúp tăng thêm sự che phủ bên trên túi độn ở vùng quan trọng nhất của bộ ngực: vùng khe ngực và nửa trên của vú, những vị trí thường lộ ra ngoài khi mặc áo trễ cổ hay đồ bơi.

Trong quá trình đặt túi độn ngực dưới cơ, bác sĩ sẽ tách phần dưới của cơ ngực (ở nửa dưới của vú) lên đến giữa xương ức để tạo khoang chứa túi độn. Trong hầu hết các trường hợp, nếu không được tách thì cơ ngực sẽ trùm lên gần như toàn bộ túi độn và khi cơ co lại, túi độn bên dưới sẽ dịch chuyển, thường là theo hướng lên trên và về phía nách, khiến cho ngực bị biến dạng. Đây được coi là một trong các biến chứng của phương pháp nâng ngực bằng túi độn. Khi phần dưới của cơ ngực được tách ra, các bó cơ sẽ co lên trên (vĩnh viễn), do đó sẽ không che phủ lên phần dưới của túi độn và do đó không gây biến dạng.

Như đã nói rõ trên, phương pháp đặt túi độn dưới cơ thực chất không phải “dưới cơhoàn toàn” mà thường chỉ là “dưới cơ một nửa”, trong đó nửa trên của túi độn dưới cơ và nửa dưới là dưới tuyến vú. Vì vậy nên phương pháp này còn có thể được gọi là phương pháp đặt túi độn dưới cơ không hoàn toàn (Dual Plane). Ngoài ra, cơ ngực còn có thể được tách ra theo nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào vú bên trên. Kỹ thuật tách cơ mức độ ít nhất được gọi là Dual Plane I: cơ ngực lớn được tách nhưng rìa bên dưới của nó vẫn nằm ở vị trí thấp hơn rìa dưới của quầng vú. Tiếp đến là kỹ thuật Dual Plane II, trong đó, cơ ngực được tách sao cho rìa bên dưới nằm ngang bằng hoặc chỉ thấp hơn một chút so núm vú. Cuối cùng, với kỹ thuật Dual Plane III thì rìa dưới cơ ngực sẽ nằm ngang hoặc cao hơn so với rìa trên cùng của quầng vú.

Cơ ngực được tách ra càng nhiều thì nguy cơ ngực bị biến dạng sẽ càng thấp và khả năng túi độn dịch chuyển xuống thấp để lấp đầy cho nửa dưới vú sẽ càng cao. Trong số ba kỹ thuật nói trên thì kỹ thuật Dual Plane II được sử dụng phổ biến nhất vì có thể duy trì được sự đầy đặn cho nửa trên vú lại vừa hạn chế được nguy cơ biến dạng. Mặc dù vậy nhưng nhìn chung thì phương pháp đặt túi độn dưới cơ vẫn phương pháp có tỉ lệ rủi ro, biến chứng thấp nhất. Ngoài lý do này thì còn có một lý khác khiến cho phương pháp đặt túi độn dưới cơ được lựa chọn phổ biến, đó là khi được đặt ở vị trí này, việc chụp nhũ ảnh sẽ thuận lợi hơn so với vị trí trên cơ.

Một lý do hấp dẫn nữa để chọn vị trí đặt túi độn dưới cơ là về mặt thẩm mỹ, khi được đặt ở khoang chứa trên cơ, túi độn sẽ dễ bị lộ ra ở nửa trên của bầu vú, khiến cho vùng này bị lồi ra, không tự nhiên. Khi túi độn được đặt dưới cơ ngực, nửa trên vú sẽ có độ phẳng vừa phải, dốc dần từ thành ngực xuống núm vú, giúp cho bộ ngực trông tự nhiên.

Ở một số người có thể tích vú tương đối lớn trước khi phẫu thuật thì việc đặt túi độn trên cơ hay dưới cơ cũng không ảnh hưởng nhiều đến kết quả ban đầu sau khi nâng ngực. Nhưng khi lão hóa, mô mỡ và mô vú thường teo đi và vị trí chịu ảnh hưởng rõ rệt của điều này chính là ở nửa trên và vùng khe ngực. Vì vậy, có thể khi mới phẫu thuật xong, túi độn có thể được che phủ bởi lớp mô dày nhưng sau một vài năm, khi lượng mô giảm đi, những nếp gấp và gợn sóng của túi độn sẽ bắt đầu lộ rõ.

Đường rạch mổ, vết sẹo nâng ngực

Có 4 kiểu đường mổ đặt túi độn ngực, trong đó hiện nay nhiều bác sĩ đã không còn sử dụng đường rạch quầng vú nữa vì nó có thể làm tăng nguy cơ co thắt bao xơ so với các đường rạch còn lại.

Đường rạch mổ ở nếp gấp dưới vú (đường chân ngực)

Đây là đường rạch mổ thường được sử dụng nhiều nhất và là đường mổ tối ưu. Một đường rạch được tạo chính xác trùng với nếp gấp chân ngực sẽ gần như vô hình sau khi đường rạch lành lại và vết sẹo trưởng thành hoàn toàn.

Trong một số trường hợp nếp gấp dưới vú cần phải được hạ xuống thấp để có được dáng ngực đẹp tối ưu, và trong những trường hợp như vậy thì điều quan trọng nhất là phải có kế hoạch phẫu thuật chi tiết để xác định chính xác vị trí của đường rạch.

Đường rạch chân ngực có một số ưu điểm như sau:

  • Đường rạch nằm ở vùng rìa của vú, vì vậy không phải cắt qua mô vú để tạo khoang chứa túi độn.
  • Dễ dàng tiếp cận trực tiếp vào khoang chứa túi độn, thuận lợi hơn trong bóc tách cơ ngực lớn - xương sườn - mô vú
  • Dễ dàng cải thiện sự không cân đối của hai bên ngực thông qua đường rạch này
  • Nếu cần phải hạ thấp nếp gấp dưới vú, đường rạch này cho phép bác sĩ phẫu thuật định hình lại và bảo vệ nếp gấp mới.
  • Đường chỉ khâu có thể giảm thiểu được nguy cơ túi độn bị lệch vị trí (biến chứng lồi đáy vú).

Đường rạch ở nách

Đây cũng là một kỹ thuật hiệu quả để đặt túi độn với ưu điểm là không bị sẹo ở ngực, tuy nhiên đường rạch này chì phù hợp với một số đối tượng bệnh nhân cụ thể.

Đường rạch nách là lựa chọn lý tưởng cho những bệnh nhân có bộ ngực không bị chảy xệ, hai bên cân đối, đặc biệt là những phụ nữ trẻ chưa từng mang thai. Ở những bệnh nhân có ngực nhỏ, không bị chảy xệ thì vết sẹo do đường rạch ở nếp gấp dưới vú để lại có thể dễ bị lộ.

Đương rạch nách cũng có một số điểm hạn chế. Với đường rạch này thì sẽ có sự giới hạn trong việc điều chỉnh hình dạng vú, cơ ngực lớn, cải thiện sự không cân đối của hai bên ngực, và khi cần hạ thấp nếp gấp dưới vú, bác sĩ sẽ không thể định hình, hỗ trợ và duy trì nếp gấp mới. Ngoài ra, còn một điều quan trọng nữa là khi cần phẫu thuật chỉnh sửa ngực hỏng thì vẫn sẽ phải tạo đường rạch ở nếp gấp dưới vú.

Các đối tượng thường phù hợp với đường rạch nách là phụ nữ trẻ (20 - 30 tuổi) với bộ ngực nhỏ, còn săn chắc, không chênh lệch quá rõ và không cần hạ thấp nếp gấp dưới vú. Và đây là một vị trí rạch phù hợp khi nâng ngực bằng túi gel silicone mềm (không phải túi gummy bear). Cách thực hiện này sẽ giúp cho bộ ngực có cảm giác tự nhiên và đồng thời hoàn toàn không nhìn thấy vết sẹo.

Đường rạch quanh quầng vú

Đây là kỹ thuật tạo một đường rạch hình bán nguyệt quanh quầng vú, thường là ở nửa dưới.

Ưu điểm chính của đường rạch này là vết sẹo sẽ nằm ở vùng da tối màu của quầng vú nên không bị lộ nhưng điều này còn phụ thuộc vào khả năng lành vết thương của mỗi người. Nếu không may bị hình thành sẹo lồi thì vết sẹo sẽ lại nằm ở vị trí dễ nhìn thấy nhất của bầu ngực.

Một nhược điểm khác cần cân nhắc là nguy cơ co thắt bao xơ cao gấp 8 – 10 lần so với các vị trí đường rạch khác. Vì trong các ống dẫn sữa ở núm vú có rất nhiều vi khuẩn nên chúng có thể bám vào túi độn trong quá trình đưa vào hoặc trong khi tạo khoang chứa. Điều này sẽ dẫn đến biến chứng co thắt bao xơ và cần phải phẫu thuật lần hai để xử lý.

Đường rạch mổ ở rốn

Ngoài ba đường rạch nói trên, túi độn còn có thể được đưa vào qua đường rạch ở rốn, tuy nhiên có một số vấn đề với vị trí rạch này và do đó, nó không còn được sử dụng phổ biến nữa. Việc đưa túi độn vào từ một vị trí cách xa ngực như vậy sẽ làm giảm độ chính xác của quá trình tạo khoang chứa túi hoặc khiến cho kết quả kém tự nhiên, hơn nữa vị trí rạch này thường làm tăng nguy cơ biến chứng và phải phẫu thuật lại. Do đó, hầu hết các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ hiện nay đều không sử dụng kỹ thuật pháp này.

Ưu và nhược điểm của nâng ngực

Ưu điểm

  • Ngực sẽ to hơn, tròn đầy, hấp dẫn trẻ trung hơn
  • Kết quả thường kéo dài hơn 10 năm
  • Túi độn ngực rất đa dạng về hình dạng, kích thước, độ cứng mềm, .. giúp bác sĩ lựa chọn túi phù hợp với khuôn ngực của từng phụ nữ

Nhược điểm

  • Mang thai, mãn kinh và giảm cân có thể ảnh hưởng đến vẻ ngoài của bầu ngực sau khi đã nâng
  • Túi độn ngực không tồn tại suốt đời. Túi đặt càng lâu thì càng có nhiều khả năng xảy ra biến chứng và bạn sẽ phải thay thế chúng.
  • Có một số rủi ro nhất định liên quan đến túi độn ngực bao gồm rò rỉ hoặc vỡ túi độn, tụ dịch, co thắt bao xơ (hình thành mô sẹo quanh túi độn), túi độn bị gợn sóng và nằm không đúng vị trí. Ngoài ra, ngày càng nhiều phụ nữ báo cáo gặp phải một loạt các triệu chứng bao gồm: các vấn đề về nhận thức, mệt mỏi mãn tính và đau khớp – tất cả đều được biết đến là Bệnh túi độn. Mặc dù FDA đã tuyên bố công khai rằng các nghiên cứu cho thấy, không có bất kỳ bằng chứng nào chứng minh túi độn ngực gây ra những triệu chứng này, nghiên cứu hiện vẫn đang tiếp tục được thực hiện để tìm hiểu rõ nguyên nhân gây ra những vấn đề này.
  • Bạn vẫn có thể cho con bú nhưng nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Quốc tế Nuôi con bằng sữa mẹ (International Breastfeeding Journal) cho thấy, phẫu thuật ngực có nguy cơ làm hỏng ống dẫn sữa dẫn đến khả năng sản xuất sữa mẹ không đủ, nhất là với kỹ thuật đường mổ quanh núm vú.
  • Túi độn ngực cấu trúc (hay còn gọi là túi hình giọt nước hoặc túi gummy bear) có hình giọt nước tự nhiên và được làm đầy bằng một loại gel silicon cứng hơn so với loại được sử dụng trong túi hình tròn truyền thống. Đôi khi những túi độn này có lớp vỏ nhám để bám giữ chắc chắn không bị trượt đi trượt lại bên trong ngực bạn. Tuy nhiên theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Plastic and Reconstructive Surgery, túi độn vỏ nhám có liên quan đến nguy cơ mắc ALCL cao hơn, một loại ung thư hạch bạch huyết. Vì lý do này nên chúng không còn được sử dụng quá phổ biến nữa. Và kể từ tháng 07/2019 túi độn ngực vỏ nhám của một nhà sản xuất lớn đã bị FDA thu hồi.
  • Một tình trạng được gọi là “biến dạng do hoạt động” có thể xảy ra với vị trí đặt túi độn dưới cơ, điều này có nghĩa là túi độn sẽ di chuyển xung quanh khi bạn hoạt động cơ ngực của mình. Vì vậy nếu bạn thường tập nhiều ở phần trên cơ thể (như bơi, chèo thuyền, quần vợt, bóng mềm – bóng chày quý bà, cử tạ vv…) thì có thể sẽ muốn chọn vị trí đặt trên cơ.

Quy trình nâng ngực diễn ra như thế nào?

Trước khi bước vào phẫu thuật bạn sẽ có cuộc tư vấn với bác sĩ của mình. Đầu tiên bác sĩ sẽ hỏi về các mục tiêu cũng như tiền sử bệnh lý của bệnh nhân. Kế đến là kiểm tra thể chất, trong đó bao gồm kiểm tra ngực cũng như thực hiện một số phép đo ở vú và thành ngực. Sau đó bác sĩ và bệnh nhân sẽ cùng ngồi xuống thảo luận về các lựa chọn phẫu thuật, các nguy cơ rủi ro cũng như quá trình hồi phục. Nhiều bác sĩ cũng yêu cầu thực hiện chụp X quang tuyến vú trước phẫu thuật.

1. Nâng ngực bằng túi độn

nâng ngực bằng túi độn 1
Bác sĩ chuẩn bị túi độn

Nếu bạn muốn nâng ngực bằng túi độn, bác sĩ sẽ giúp bạn xác định loại túi độn tốt nhất, vị trí đường mổ, vị trí đặt túi độn và kết quả mong muốn. Dữ liệu từ Hiệp hội các Bác sĩ Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ (ASAPS) cho thấy 87% ca phẫu thuật đặt túi độn ngực ngày nay sử dụng túi gel silicon. Bệnh nhân thường chọn hoặc là túi gel silicon có độ kết dính cao – loại có hình tròn, được làm đầy bằng gel silicon dày, hoặc là túi “gummy bear” – loại có kết cấu dày đặc hơn, rắn hơn và có hình giọt nước. Tuy nhiên một số bệnh nhân vẫn chọn túi nước muối, loại được làm đầy bằng nước muối vô trùng trong lớp vỏ silicon. Loại túi độn này có thể được làm đầy sau khi đã đặt vào trong ngực, vậy nên vết mổ và vết sẹo để lại có thể nhỏ hơn. Một số bác sĩ coi tình trạng vỡ túi nước muối ít lo ngại hơn vì cơ thể bạn sẽ hấp thụ dung dịch nước muối này một cách tự nhiên và các bệnh nhân có thể dễ dàng thấy được dấu hiệu túi bị vỡ (ví dụ ngực bị xẹp) để xử lý nhanh hơn.

Trong quá trình phẫu thuật bác sĩ sẽ rạch một đường quanh núm vú, ở nếp gấp dưới vú hoặc ở nách để giảm tối thiểu nguy cơ lộ sẹo. Sau đó bác sĩ sẽ tạo một khoang chứa ở trên hoặc ở dưới cơ ngực và đặt túi độn vào. Đường mổ sẽ được khâu đóng bằng nhiều lớp khâu ở bên trong, sau đó khâu đóng da bằng chỉ, hoặc dùng keo dính da, dán băng phẫu thuật. Toàn bộ ca phẫu thuật mất khoảng 1 tiếng đồng hồ, bệnh nhân không phải ở lại qua đêm trong viện.

2. Nâng ngực bằng mỡ tự thân

nâng ngực bằng mỡ tự thân 1
Mỡ được hút từ vị trí khác trên cơ thể để chuẩn bị cho quy trình nâng ngực bằng mỡ tự thân

Nếu bạn chọn nâng ngực bằng mỡ tự thân thì sẽ cần chuẩn bị thêm. Một thiết bị làm giãn mô vú giống như áo ngực sẽ được mặc khoảng 7 tiếng 1 ngày trong 3 tuần trước khi phẫu thuật. Thiết bị này sử dụng lực hút chân không để kéo căng da và mô vú ra tạo không gian cho mỡ cấy vào sau đó. Trong phiên phẫu thuật, bác sĩ sẽ tiến hành hút mỡ để loại bỏ mỡ từ một vùng có nhiều mỡ trên cơ thể, như bụng hoặc đùi, sau đó cấy mỡ đó vào ngực. Lợi ích của phương pháp này là bạn sẽ sử dụng mô của chính mình để tăng thể tích cho ngực (khác với việc dùng một vật liệu bên ngoài). Nhưng nhược điểm là bạn không thể tăng kích cỡ nhiều như có thể làm với túi độn. Nói chung cấy mỡ tự thân có thể làm tăng kích cỡ ngực lên khoảng 1 cup.

3. Treo ngực sa trễ

Với nâng ngực chảy xệ, bác sĩ sẽ rạch một đường mổ hoặc là chỉ ở quanh núm vú, hoặc là rạch một đường quanh núm vú rồi mở rộng đường mổ đó, từ viền dưới quầng vú kéo thẳng xuống nếp gấp dưới vú; hoặc là rạch một đường quanh núm vú, kéo thẳng xuống nếp gấp dưới vú và kéo ngang nếp gấp dưới vú. Sau đó tiến hành nâng và định hình lại mô vú, trong quá trình này sẽ cắt bỏ mô da thừa chảy xệ. Núm vú cũng được nâng lên và đặt lại vị trí (mặc dù không bị tách hẳn ra khỏi vú) – và nếu bệnh nhân không hài lòng với kích cỡ quầng vú của cô ấy thì cũng có thể thu nhỏ bớt lại.

Cả ba phương pháp này đều thường được thực hiện dưới hình thức gây mê toàn thân.

Quá trình hồi phục sau nâng ngực

Bác sĩ sẽ quấn băng gạc quanh ngực bạn kèm theo một cái băng thun hoặc áo ngực thể thao để hỗ trợ và giảm sưng tấy cũng như đẩy nhanh quá trình hồi phục. Đau có thể kéo dài lên đến 5 ngày, tình trạng nhức và sưng sẽ kéo dài trong nhiều tuần sau đó – nhưng không có gì nghiêm trọng. Hầu hết mọi người đều đi làm lại sau 1 tuần và có thể tập thể dục bình thường trở lại sau 4 tuần hậu phẫu. Các bác sĩ lưu ý rằng, quá trình phục hồi sau nâng ngực chảy xệ đôi khi có thể kéo dài lâu hơn so với nâng ngực bằng túi độn hay cấy mỡ tự thân.

Khi nào sẽ thấy kết quả và kết quả kéo dài bao lâu?

1. Kết quả nâng ngực bằng túi độn

Sau khi nâng ngực bằng túi độn, ngực của bạn sẽ bắt đầu hạ xuống và căng đầy ra khi da và cơ giãn lỏng, đưa túi độn từ vị trí cao được đặt vào từ ban đầu xuống vị trí thấp tự nhiên hơn. Sẽ mất khoảng 6 tuần túi nâng ngực mới bắt đầu ổn định vào vị trí, vào thời điểm 3 tháng là chúng đã ổn định được gần 80% rồi. Bạn sẽ thấy quá trình túi độn ổn định này giống như quá trình bạn mọc tóc vậy. Bạn không thấy tóc dài ra khác biệt mỗi ngày nhưng đột nhiên lại thấy mình cần cắt tóc.

Và mặc dù ý nghĩ cho rằng cần phải thay túi độn sau mỗi 10 năm là một quan niệm sai lầm, nhưng túi độn cũng không tồn tại suốt đời. Một báo cáo vào năm 2011 của FDA cho thấy, cứ 5 phụ nữ đặt túi gel silicon lại có 1 người cần chỉnh sửa vì co thắt bao xơ, vỡ túi độn… trong 10 năm.

2. Kết quả nâng ngực bằng mỡ tự thân

Với nâng ngực bằng mỡ tự thân, ngay lập tức bạn sẽ có bộ ngực đầy đặn hơn nhưng cơ thể bạn sẽ hấp thụ đi khoảng 20% - 50% mỡ đã được cấy vào. Một khi tế bào mỡ được cấy sống sót được, bộ ngực căng đầy hơn của bạn sẽ như thể ngực tự nhiên vậy.

3. Kết quả treo ngực sa trễ

Với nâng ngực chảy xệ, bạn cũng có thể nhận thấy khác biệt ngay lập tức mặc dù mô vú sẽ thay đổi và ổn định trong vài tháng tới để cho bạn kết quả cuối cùng.

Nâng ngực giá bao nhiêu?

Chi phí trung bình cho một ca phẫu thuật nâng ngực khoảng 70 triệu. Có nhiều yếu tố tác động đến mức giá bao gồm phương pháp nâng ngực, trình độ kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật, địa điểm bệnh viện và các chi phí bổ sung khác - như chi phí cho phòng phẫu thuật, gây mê và các buổi tái khám hậu phẫu. Phẫu thuật nâng ngực không được bảo hiểm hỗ trợ chi trả.

Biến chứng

Nâng ngực là phẫu thuật lớn thực hiện trong phòng mổ bệnh viện, vì thế có rủi ro liên quan đến phẫu thuật, gây mê và biến chứng thẩm mỹ.

Tham vấn y khoa: Bác sĩ Tâm

Tổng số điểm của bài viết là: 114 trong 23 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Nhập thông tin để được tư vấn & trợ giá thẩm mỹ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây