Chúng tôi trên mạng xã hội

    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

HIV/AIDS

 

HIV là gì?

HIV (human immunodeficiency virus) là một loại virus gây suy giảm hệ miễn dịch. Hệ miễn dịch có vai trò giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân có hại như vi khuẩn, ký sinh trùng hay virus. Nếu không được điều trị, HIV sẽ lây lan sang và giết chết các tế bào CD4 - một loại tế bào miễn dịch còn có tên là tế bào T. Theo thời gian, khi quá nhiều tế bào CD4 bị tiêu diệt, cơ thể sẽ dễ bị các loại bệnh nhiễm trùng và ung thư. HIV có thể gây ra những thay đổi trên toàn cơ thể.

Nhiễm HIV là bệnh hiện chưa có cách chữa trị và một khi đã nhiễm virus thì sẽ mang bệnh suốt đời. Tuy nhiên, nhờ liệu pháp kháng virus mà người bị nhiễm HIV hiện nay có thể kiểm soát tình trạng bệnh và sống bình thường trong suốt nhiều năm. Với liệu pháp kháng virus, tình trạng nhiễm HIV có thể được kiểm soát tốt và tuổi thọ có thể tương đương với người bình thường.

Ngược lại, nếu không được điều trị, nhiễm HIV sẽ phát triển thành một tình trạng nghiêm trọng gọi là AIDS. Ở giai đoạn này, hệ miễn dịch bị suy yếu nghiêm trọng và không còn khả năng chống lại nhiễm trùng cũng như là các loại bệnh tật. Và khi không được điều trị, người bị AIDS sẽ chỉ có thể sống thêm được một thời gian ngắn.

Tìm hiểu về các ảnh hưởng của HIV trong cơ thể

AIDS là gì?

AIDS là viết tắt của acquired immunodeficiency syndrome, có nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Những người nhiễm HIV nếu không được điều trị thì bệnh sẽ tiến triển sang giai đoạn AIDS. Hay nói cách khác, AIDS là giai đoạn muộn của HIV.

HIV giết chết tế bào CD4. Ở người trưởng thành khỏe mạnh, số lượng tế bào CD4 thường dao động trong khoảng từ 500 đến 1.500 tế bào trên mỗi milimét khối (m3). Một người nhiễm HIV nếu có số lượng tế bào CD4 giảm xuống dưới 200 tế bào/m3 thì sẽ được chẩn đoán bị AIDS.

Một người cũng sẽ được chẩn đoán AIDS nếu nhiễm HIV và bị một bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc một dạng ung thư hiếm gặp ở những người bình thường. Nhiễm trùng cơ hội là những bệnh nhiễm trùng xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể bị suy yếu, chẳng hạn như ở những người bị nhiễm HIV.

Khi không được điều trị, HIV sẽ tiến triển thành AIDS trong vòng khoảng 10 năm. Hiện chưa có cách chữa khỏi AIDS nhưng vẫn có những phương pháp điều trị để kiểm soát bệnh. Các loại thuốc kháng virus hiện nay có thể ngăn ngừa HIV phát triển thành AIDS và làm chậm sự tiến triển của bệnh. Nếu không điều trị, tuổi thọ của người bị AIDS là khoảng ba năm hoặc ngắn hơn nếu người bệnh mắc phải một bệnh cơ hội nghiêm trọng.

Khi bị AIDS, hệ miễn dịch cơ thể đã bị tổn hại nghiêm trọng và suy yếu đến mức không thể chống lại vi khuẩn, vi-rút, ký sinh trùng và các loại bệnh khác. Điều này khiến cho người bệnh dễ bị mắc phải các bệnh như:

  • Viêm phổi
  • Bệnh lao
  • Nấm miệng, một dạng nhiễm nấm xảy ra trong miệng hoặc cổ họng
  • Nhiễm cytomegalovirus (CMV) - một loại virus herpes
  • Viêm màng não do nấm cryptococcus – một dạng nhiễm nấm xảy ra trong não
  • Nhiễm toxoplasmosis – một dạng nhiễm trùng não do ký sinh trùng
  • Bệnh do Cryptosporidium - bệnh nhiễm trùng do ký sinh trùng đường ruột gây nên
  • Ung thư, gồm có ung thư mô liên kết Kaposi (Kaposi’s sarcoma) và ung thư hạch

AIDS không phải là nguyên nhân trực tiếp rút ngắn tuổi thọ của người mắc bệnh mà thực tế, nguyên nhân là do các bệnh và biến chứng phát sinh khi hệ miễn dịch bị suy yếu ở những người bị AIDS.

Tìm hiểu thêm về các biến chứng có thể xảy ra do HIV và AIDS

HIV và AIDS

Tất cả những người bị AIDS đều đã trải qua giai đoạn nhiễm HIV nhưng không phải ai nhiễm HIV cũng phát triển thành AIDS.

HIV phát triển qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Được gọi là giai đoạn cấp tính, kéo dài một vài tuần đầu tiên sau khi phơi nhiễm
  • Giai đoạn 2: Giai đoạn trễ lâm sàng hay giai đoạn mãn tính
  • Giai đoạn 3: Giai đoạn AIDS

Nếu không được điều trị, HIV sẽ tiếp tục sinh sôi và làm giảm số lượng tế bào CD4. Số lượng tế bào CD4 ở một người trưởng thành là khoảng từ 500 đến 1.500 tế bào/m3. Khi số lượng tế bào này bị sụt giảm, hệ miễn dịch sẽ bị suy yếu. Khi một người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 dưới 200/m3 thì sẽ ở giai đoạn AIDS.

Ở giai đoạn mãn tính, đa số người bệnh đều không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. Giai đoạn mãn tính của trường hợp nhiễm HIV lại kéo dài trong khoảng thời gian khác nhau. Nếu không điều trị, giai đoạn này thường kéo dài khoảng 10 năm trước khi tiến triển sang AIDS. Còn nếu được điều trị thì giai đoạn không biểu hiện triệu chứng có thể kéo dài mãi mãi và người bệnh không bao giờ bị AIDS.

Mặc dù hiện chưa có cách chữa khỏi HIV nhưng đã có phuơng pháp để kiểm soát bệnh. Nếu được điều trị sớm bằng liệu pháp kháng virus, những người nhiễm HIV thường có tuổi thọ gần như ngang với người không nhiễm HIV. Tương tự, bệnh AIDS cũng chưa có cách nào chữa được nhưng các phương pháp điều trị có thể làm tăng số lượng tế bào CD4 của người bệnh lên mức mà người đó được coi là không còn bị AIDS nữa (200/m3 hoặc cao hơn). Ngoài ra, việc điều trị còn giúp kiểm soát các bệnh nhiễm trùng cơ hội.

Hiện nay, hai từ HIV/AIDS thường đi đôi với nhau khiến nhiều người lầm tưởng hai bệnh này là một. Mặc dù HIV và AIDS có liên quan chặt chẽ đến nhau nhưng thực ra lại rất khác nhau.

Tìm hiểu thêm về sự khác biệt giữa HIV và AIDS

Nguyên nhân

Nguồn gốc của HIV

HIV là một biến thể của chủng virus gây suy giảm miễn dịch ở khỉ (simian immunodeficiency - SIV) có ở loài tinh tinh châu Phi. Các nhà khoa học cho rằng virus đã truyền từ tinh tinh sang người khi con người ăn thịt tinh tinh bị nhiễm bệnh. Khi ở trong con người, SIV đã biến đổi thành HIV hiện nay. Điều này có khả năng xảy ra từ những năm 1920.

HIV lây truyền từ người sang người trên khắp châu Phi trong suốt nhiều thập kỷ. Dần dần, virus đã lan đến các nơi khác trên thế giới. HIV được phát hiện trong mẫu máu người lần đầu tiên vào năm 1959.

HIV tiến triển thành AIDS khi nào?

AIDS cũng là do nhiễm HIV và là giai đoạn sau của HIV. Một người không thể bị AIDS nếu như không bị nhiễm HIV.

Khi số lượng tế bào CD4 của một người nhiễm HIV giảm xuống dưới 200 tế bào/m3 thì bệnh đã tiến triển sang giai đoạn AIDS. Hoặc kể cả khi số lượng tế bào CD4 trên 200/m3 nhưng người đó bị một bệnh nhiễm trùng cơ hội có liên quan đến HIV thì cũng sẽ bị chẩn đoán AIDS.

HIV lây truyền qua con đường nào?

Bất cứ ai cũng có thể nhiễm HIV. Virus này lây truyền qua dịch cơ thể, bao gồm có:

  • Máu
  • Tinh dịch
  • Dịch âm đạo và trực tràng
  • Sữa mẹ

Một số con đường lây truyền HIV từ người sang người gồm có:

  • Qua quan hệ tình dục đường âm đạo hoặc đường hậu môn – đây là con đường lây truyền phổ biến nhất, đặc biệt là ở nam giới có quan hệ tình dục đồng giới
  • Qua đường máu, ví dụ như dùng chung kim tiêm, ống tiêm và các vật dụng khác để tiêm thuốc; xăm mình bằng thiết bị không được khử trùng giữa các lần sử dụng
  • Truyền từ mẹ sang con trong thời gian mang thai, sinh con hoặc cho con bú

Virus cũng có thể lây truyền qua đường truyền máu hoặc ghép tạng và mô. Tuy nhiên, hiện nay, nhờ quy trình xét nghiệm nghiêm ngặt trước khi hiến máu, nội tạng và mô nên khả năng lây nhiễm này rất hiếm khi xảy ra. Ngoài ra, HIV còn có thể lây truyền qua một số con đường hiếm gặp khác như:

  • Quan hệ tình dục đường miệng (chỉ khi bị chảy máu lợi/nướu hoặc có vết thương hở, vết loét trong miệng)
  • Bị người nhiễm HIV cắn (chỉ khi nước bọt có máu hoặc có vết thương hở trong miệng)
  • Tiếp xúc giữa hai vùng da có vết thương hở với người nhiễm HIV

HIV KHÔNG lây qua:

  • Tiếp xúc ngoài da
  • Ôm, bắt tay hoặc hôn
  • Không khí và nước
  • Chia sẻ đồ ăn hoặc đồ uống
  • Dùng chung vật dụng
  • Nước bọt, nước mắt hoặc mồ hôi (trừ khi có lẫn máu của người nhiễm HIV)
  • Dùng chung nhà vệ sinh, khăn tắm hoặc chăn ga trải giường
  • Muỗi hoặc các côn trùng khác

Khi một người bị nhiễm HIV nhưng đang điều trị và có tải lượng virus giảm xuống mức không thể phát hiện được thì khả năng lây truyền virus cho người khác là rất thấp.

Tìm hiểu thêm về sự lây truyền HIV

Các biểu hiện của nhiễm HIV

Biểu hiện ban đầu

Vài tuần đầu tiên sau khi phơi nhiễm HIV được gọi là giai đoạn cấp tính. Trong giai đoạn này, virus sinh sản nhanh chóng và hệ miễn dịch đáp ứng bằng cách tạo ra kháng thể chống lại HIV. Đây là những protein được tạo ra khi cơ thể bị nhiễm vi khuẩn, virus hay kí sinh trùng.

Trong giai đoạn này, một số người không bộc lộ triệu chứng. Mặt khác, nhiều người gặp phải các triệu chứng trong vòng 1 hoặc 2 tháng đầu tiên sau khi nhiễm virus nhưng lại không biết đó là các biểu hiện là do HIV gây ra. Nguyên nhân là bởi các biểu hiện của HIV giai đoạn cấp tính thường rất giống với các triệu chứng cảm cúm hoặc triệu chứng nhiễm các loại virus theo mùa khác. Các biểu hiện có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng khác nhau và thường tự hết sau khoảng từ vài ngày đến vài tuần.

Các biểu hiện ban đầu khi nhiễm HIV gồm có:

  • Sốt
  • Ớn lạnh
  • Sưng hạch bạch huyết
  • Đau nhức cơ thể
  • Phát ban trên da
  • Viêm họng
  • Đau đầu
  • Buồn nôn
  • Đau bụng

Vì những triệu chứng này tương tự như các bệnh thông thường như cúm nên người mắc bệnh thường không đi khám. Và ngay cả khi đi khám thì có thể bác sĩ cũng chỉ chẩn đoán cúm hoặc tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn chứ không nghĩ đến khả năng nhiễm HIV để làm xét nghiệm kiểm tra.

Cho dù có triệu chứng hay không thì ở trong giai đoạn này, tải lượng virus trong cơ thể vẫn ở mức rất cao. Tải lượng virus là lượng HIV có trong máu. Tải lượng virus càng cao thì HIV càng dễ lây truyền sang người khác trong thời gian này.

Các triệu chứng HIV ban đầu thường hết trong vòng vài tháng khi người bệnh bước vào giai đoạn mãn tính hoặc giai đoạn trễ lâm sàng. Giai đoạn này có thể kéo dài nhiều năm hoặc thậm chí vài chục năm nếu như được điều trị.

Các triệu chứng HIV ở mỗi người là khác nhau.

Các triệu chứng ban đầu của HIV

Biểu hiện của giai đoạn sau

Sau khoảng một tháng đầu tiên, HIV bước vào giai đoạn trễ lâm sàng. Giai đoạn này có thể kéo dài từ vài năm hoặc nếu được điều trị tốt thì có thể kéo dài đến vài chục năm. Trong thời gian này, người bệnh có thể không bộc lộ bất kỳ triệu chứng nào hoặc có nhưng các triệu chứng rất nhẹ và không đặc hiệu. Triệu chứng không đặc hiệu là những triệu chứng không thuộc về riêng một bệnh hoặc vấn đề cụ thể nào.

Những triệu chứng không đặc hiệu này có thể là:

  • Đau đầu và cảm giác đau nhức ở những vị trí khác trên cơ thể
  • Sưng hạch bạch huyết
  • Sốt tái đi tái lại
  • Đổ mồ hôi về đêm
  • Người mệt mỏi
  • Buồn nôn và nôn mửa
  • Tiêu chảy
  • Sụt cân
  • Phát ban da
  • Nhiễm nấm trong miệng hoặc âm đạo tái đi tái lại
  • Viêm phổi
  • Bệnh zona

Giống như giai đoạn đầu, HIV ở giai đoạn thứ hai này vẫn có thể lây truyền ngay cả khi không có triệu chứng. Tuy nhiên, nhiều người không biết rằng mình bị nhiễm HIV nếu như không xét nghiệm. Nếu như có những triệu chứng này và nghĩ rằng mình có thể đã bị nhiễm HIV thì cần đi xét nghiệm ngay.

Các biểu hiện HIV (nếu có) ở giai đoạn này cũng thường chỉ xảy đến trong thời gian ngắn và tự hết hoặc tiến triển rất nhanh. Nếu được điều trị, tốc độ tiến triển của bệnh có thể được làm chậm lại một cách đáng kể. Bằng cách thực hiện liệu pháp kháng virus kịp thời và liên tục, giai đoạn mãn tính của HIV có thể kéo dài trong suốt vài chục năm mà không phát triển thành AIDS.

Quá trình tiến triển của các triệu chứng HIV theo thời gian

Phát ban có phải là triệu chứng của HIV không?

Có đến 90% người bị nhiễm HIV gặp phải những thay đổi trên da. Phát ban thường là một trong những triệu chứng đầu tiên của nhiễm HIV hoặc cũng có thể là do tác dụng của các loại thuốc điều trị bệnh. Nói chung, phát ban liên quan đến HIV thường xuất hiện dưới dạng những đốm nhỏ màu đỏ, có thể phẳng hoặc nhô trên da.

Phát ban do HIV

HIV khiến cho người bệnh dễ bị các vấn đề về da hơn vì virus phá hủy các tế bào miễn dịch chống lại nhiễm trùng. Một số nguyên nhân thường gây phát ban da ở người nhiễm HIV gồm có:

  • U mềm lây (molluscum contagiosum)
  • Bệnh herpes hay mụn rộp
  • Bệnh zona

Dạng phát ban, thời gian và cách điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh cụ thể của từng trường hợp.

Phát ban do thuốc

Bên cạnh các bệnh nêu trên, nguyên nhân gây phát ban da ở người nhiễm HIV cũng có thể là do các loại thuốc. Một số loại thuốc điều trị HIV hoặc các bệnh nhiễm trùng khác cũng có thể gây phát ban. Loại phát ban này thường xảy ra trong vòng 1 hoặc 2 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc mới. Đôi khi tình trạng phát ban sẽ tự hết nhưng nếu không thì có thể sẽ phải đổi loại thuốc khác.

Phát ban do phản ứng dị ứng với thuốc có thể rất nghiêm trọng và đi kèm với các triệu chứng khác như khó thở, khó nuốt, chóng mặt và sốt.

Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) là một dạng phản ứng dị ứng hiếm gặp, có thể xảy ra do thuốc điều trị HIV. Các triệu chứng của hội chứng này gồm có sốt, sưng mặt và lưỡi. Ngoài ra người bệnh có thể còn gặp phải hiện tượng da hoặc niêm mạc nổi các vết phồng rộp, xuất hiện và lây lan nhanh chóng. Khi tình trạng này xảy ra ở 30% diện tích da thì được gọi là hoại tử thượng bì nhiễm độc và đây là một vấn đề có thể đe dọa đến tính mạng. Nếu xảy ra tình trạng này thì cần được can thiệp khẩn cấp.

Mặc dù phát ban có thể là dấu hiệu của HIV hoặc do thuốc điều trị HIV nhưng còn rất nhiều nguyên nhân khác cũng gây phát ban da.

Tìm hiểu thêm về phát ban do HIV

Triệu chứng HIV ở nam giới

Mặc dù các triệu chứng của HIV ở mỗi người là khác nhau nhưng không phân biệt giữa hai giới nam nữ. Những triệu chứng này có thể xảy ra trong thời gian ngắn rồi lại hết hoặc ngày càng trầm trọng hơn.

Nếu một người đã bị phơi nhiễm HIV thì rất có thể còn bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) khác như bệnh lậu, chlamydia, giang mainhiễm trichomonas. Ở nam giới thì các triệu chứng của bệnh lây truyền qua đường tình dục ví dụ như vết loét trên bộ phận sinh dục thường dễ phát hiện hơn ở nữ giới.

Tìm hiểu thêm về các triệu chứng HIV ở nam giới

Triệu chứng HIV ở phụ nữ

Cả nam giới và nữ giới nhiễm HIV đều có nguy cơ cao mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tuy nhiên, khi mắc bệnh thì phụ nữ thường khó nhận thấy những thay đổi hay điểm bất thường ở bộ phận sinh dục hơn.

Ngoài ra, phụ nữ bị nhiễm HIV còn có nguy cơ cao mắc phải các bệnh như:

  • Nhiễm nấm âm đạo tái đi tái lại
  • Các dạng nhiễm khuẩn âm đạo khác, gồm có viêm âm đạo do vi khuẩn
  • Bệnh viêm vùng chậu (PID)
  • Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt
  • Nhiễm HPV, có thể gây ra mụn cóc ở bộ phận sinh dục và dẫn đến ung thư cổ tử cung

Mặc dù không liên quan đến các triệu chứng HIV nhưng một nguy cơ khác của phụ nữ khi nhiễm HIV là virus có thể truyền sang con trong thời gian mang thai. Phụ nữ mang thai và nhiễm HIV vẫn có thể điều trị bằng liệu pháp kháng virus và phương pháp này giúp làm giảm đáng kể nguy cơ truyền HIV từ mẹ sang con trong khi mang thai và sinh nở.

Ngoài ra, người mẹ nhiễm HIV cũng có thể lây truyền virus sang cho con khi cho con bú do virus này có thể truyền qua đường sữa mẹ. Do đó, phụ nữ nhiễm HIV không nên cho con bú và thay vào đó là cho con dùng sữa công thức hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ.

Tìm hiểu thêm về các triệu chứng HIV ở phụ nữ

Các biểu hiện của AIDS

AIDS có nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Trước khi bước sang giai đoạn này, hệ miễn dịch đã bị suy yếu do HIV trong suốt nhiều năm. Nếu HIV được phát hiện và điều trị sớm bằng liệu pháp kháng virus thì người nhiễm HIV sẽ không bị AIDS.

Những người bị nhiễm HIV có thể phát triển thành AIDS nếu HIV được phát hiện muộn hoặc đã biết mình bị HIV nhưng không tích cực điều trị bằng liệu pháp kháng virus. Người nhiễm HIV cũng có thể bị AIDS nếu như mang một chủng virus kháng (không đáp ứng) với các loại thuốc kháng virus.

Nếu không được điều trị đúng cách và liên tục, những người nhiễm HIV có thể bị AIDS sớm hơn. Một khi đã bị AIDS, hệ miễn dịch sẽ bị tổn hại nặng và khó chống lại nhiễm trùng, bệnh tật.

Các triệu chứng của AIDS gồm có:

  • Sốt tái đi tái lại
  • Sưng hạch bạch huyết mãn tính, đặc biệt là ở nách, cổ và háng
  • Mệt mỏi kéo dài
  • Đổ mồ hôi về đêm
  • Xuất hiện vết sẫm màu dưới da hoặc bên trong miệng, mũi hoặc mí mắt
  • Có các vết lở loét, đốm hoặc vùng tổn thương ở miệng, lưỡi, bộ phận sinh dục hoặc hậu môn
  • Nổi cục hoặc phát ban trên da
  • Tiêu chảy mãn tính
  • Sụt cân nhanh
  • Gặp các vấn đề về thần kinh như khó tập trung, mất trí nhớ và nhầm lẫn
  • Lo lắng và trầm cảm

Liệu pháp kháng virus có tác dụng kiểm soát virus và ngăn ngừa bệnh HIV tiến triển thành AIDS, ngoài ra còn điều trị được các bệnh nhiễm trùng và biến chứng khác của HIV/AIDS. Phác đồ điều trị được điều chỉnh dựa trên tình hình của từng người.

Chẩn đoán HIV bằng cách nào?

Có một số xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán HIV. Khi đến khám, bác sĩ sẽ xác định phương pháp xét nghiệm phù hợp nhất cho mỗi người.

Xét nghiệm kháng thể/kháng nguyên

Xét nghiệm tìm kháng thể/kháng nguyên là những xét nghiệm được sử dụng phổ biến nhất để chẩn đoán HIV. Các phương pháp này có thể cho kết quả trong vòng 18 - 45 ngày kể từ khi phơi nhiễm.

Đây là những xét nghiệm máu để phát hiện kháng thể và kháng nguyên trong cơ thể. Kháng thể là một loại protein mà cơ thể tạo ra để chống lại vi sinh vật xâm nhập từ bên ngoài. Mặt khác, kháng nguyên lại là bộ phận kích hoạt hệ miễn dịch của virus khi xâm nhập vào cơ thể.

Xét nghiệm kháng thể

Những xét nghiệm này chỉ cho phép phát hiện kháng thể. Khoảng từ 23 đến 90 ngày sau khi nhiễm HIV, cơ thể sẽ hình thành nên các kháng thể kháng virus. Những kháng thể này có thể được phát hiện trong máu hoặc nước bọt.

Phương pháp xét nghiệm này được thực hiện bằng cách phân tích mẫu máu hoặc mẫu nước bọt và người bệnh không cần chuẩn bị gì trước xét nghiệm. Một số xét nghiệm cho kết quả chỉ trong vòng 30 phút.

Với những người ngại phải đến các cơ sở y tế thì hiện nay có các phương pháp xét nghiệm tìm kháng thể có thể thực hiện được tại nhà như:

  • Dùng que thử OraQuick: Đây là phương pháp sử dụng que thử để kiểm tra mẫu nước bọt. Phương pháp này có thể cho kết quả chỉ trong vòng 20 phút.
  • Dùng bộ dụng cụ thử máu tại nhà: Sử dụng bộ dụng cụ chuyên dụng để kiểm tra mẫu máu từ ngón tay.

Ngoài ra, một số bệnh viện hiện nay có dịch vụ xét nghiệm HIV tại nhà. Nhân viên y tế sẽ đến tận nhà lấy mẫu máu và đem đi xét nghiệm. Thông tin của khách hàng sẽ được bảo mật tuyệt đối.

Nếu nghi ngờ bản thân đã bị phơi nhiễm HIV nhưng xét nghiệm tại nhà cho kết quả âm tính thì cần làm xét nghiệm lại sau ba tháng. Nếu cho kết quả dương tính thì nên đến khám tại bệnh viện để được xác nhận chuẩn xác.

Xét nghiệm axit nucleic (NAT)

Phương pháp xét nghiệm này thường dành cho những trường hợp có triệu chứng sớm của nhiễm HIV hoặc có các yếu tố nguy cơ. Xét nghiệm NAT không tìm kháng thể mà tìm trực tiếp virus. Tuy nhiên, thường phải mất từ ​​5 đến 21 ngày sau phơi nhiễm mới có thể phát hiện được HIV trong máu. Phương pháp xét nghiệm này thường được kết hợp với xét nghiệm tìm kháng thể để xác nhận kết quả.

Ngày nay, việc xét nghiệm chẩn đoán HIV đã trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn bao giờ hết mà độ chính xác của kết quả lại rất cao nên khi nghi ngờ thì cần kiểm tra ngay. Đối với HIV, xét nghiệm kịp thời là rất quan trọng.

Tìm hiểu thêm về các phương pháp xét nghiệm HIV tại nhà

Giai đoạn cửa sổ của HIV là gì?

Ngay khi một người bị nhiễm HIV, virus sẽ bắt đầu sinh sản trong cơ thể. Hệ miễn dịch sẽ phản ứng với các kháng nguyên (một phần của virus) bằng cách tạo ra các kháng thể (tế bào chống lại virus).

Khoảng thời gian từ lúc phơi nhiễm HIV cho đến khi phát hiện được virus trong máu được gọi là giai đoạn cửa sổ của HIV. Trong hầu hết các trường hợp thì kháng thể HIV được phát hiện trong vòng 23 đến 90 ngày sau khi phơi nhiễm.

Nếu làm xét nghiệm HIV trong giai đoạn cửa sổ thì thường cho kết quả âm tính. Tuy nhiên, kể cả như vậy thì người bị nhiễm HIV vẫn có thể truyền virus cho người khác trong thời gian này. Nếu như bạn nghi ngờ mình bị nhiễm HIV nhưng xét nghiệm lại cho ra kết quả âm tính thì nên làm xét nghiệm lại sau một vài tháng để xác nhận (thời gian cần làm xét nghiệm lại phụ thuộc vào phương pháp xét nghiệm được sử dụng nhưng thường là 3 tháng). Trong thời gian chờ, bạn cần sử dụng bao cao su để tránh lây lan HIV khi quan hệ.

Khi xét nghiệm cho kết quả âm tính trong giai đoạn cửa sổ thì bạn cũng có thể tiến hành điều trị ngay bằng phương pháp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP). Đây là loại thuốc được sử dụng sau khi phơi nhiễm để ngăn ngừa nhiễm HIV. PEP cần được thực hiện càng sớm càng tốt và không được quá 72 tiếng kể từ lúc phơi nhiễm.

Một cách khác để ngăn ngừa HIV là điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) bằng cách sử dụng kết hợp các loại thuốc kháng virus từ trước khi phơi nhiễm với HIV để làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Đây là phương pháp dành cho những cá nhân chưa bị nhiễm HIV nhưng có nguy cơ phơi nhiễm cao.

Thời gian làm xét nghiệm ảnh hưởng thế nào đến kết quả xét nghiệm HIV

Phương pháp điều trị HIV

Khi phát hiện nhiễm HIV thì cần bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt, dù tải lượng virus ở mức nào đi chăng nữa. Phương pháp chính để điều trị HIV/AIDS hiện nay là liệu pháp kháng virus (antiretroviral therapy) - kết hợp các loại thuốc kháng virus dùng hàng ngày để ngăn chặn sự sinh sôi của virus. Liệu pháp này giúp bảo vệ các tế bào CD4 và từ đó duy trì hệ miễn dịch để chống lại bệnh tật.

Liệu pháp kháng virus giúp ngăn ngừa HIV tiến triển thành AIDS và giảm nguy cơ lây truyền HIV cho người khác.

Khi liệu pháp điều trị có hiệu quả, tải lượng virus sẽ được giảm xuống mức không thể phát hiện được. Điều này có nghĩa là người đó vẫn bị nhiễm HIV nhưng nếu xét nghiệm thì sẽ không còn phát hiện thấy virus nữa. Tuy nhiên, virus vẫn còn trong cơ thể và chỉ cần ngừng điều trị là tải lượng virus sẽ tăng trở lại và HIV lại bắt đầu tấn công các tế bào CD4.

Tìm hiểu thêm về cơ chế hoạt động của liệu pháp kháng virus điều trị HIV

Các loại thuốc điều trị HIV

Đến nay đã có hơn 25 loại thuốc được chính thức phê chuẩn để điều trị HIV/AIDS. Các loại thuốc này có cơ chế hoạt động là ngăn chặn HIV sinh sản và phá hủy các tế bào CD4, giúp hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng. Điều này giúp giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng liên quan đến HIV/AIDS, cũng như là ngăn virus lây sang người khác.

Những loại thuốc kháng virus điều trị HIV được chia thành 6 nhóm:

  • Thuốc ức chế enzyme sao chép ngược nucleoside (NRTI)
  • Thuốc ức chế enzyme sao chép ngược không phải nucleoside (NNRTI)
  • Thuốc ức chế protease
  • Thuốc ức chế hòa màng
  • Thuốc đối kháng thụ thể CCR5, hay còn được gọi là thuốc ức chế xâm nhập
  • Thuốc ức chế enzyme tích hợp integrase

Phác đồ điều trị

Người nhiễm HIV được khuyến nghị nên bắt đầu điều trị bằng phác đồ gồm có ba loại thuốc HIV từ ít nhất hai trong số các nhóm thuốc kể trên. Việc kết hợp này nhằm mục đích ngăn ngừa HIV hình thành khả năng kháng thuốc. Kháng thuốc có nghĩa là thuốc không còn tác dụng tiêu diệt virus.

Nhiều loại thuốc kháng virus hiện nay được kết hợp chung với các loại thuốc khác nên người bị HIV thường chỉ cần uống 1 - 2 viên thuốc mỗi ngày.

Bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị HIV phù hợp dựa trên tình trạng sức khỏe và điều kiện cá nhân của từng người. Mỗi ngày, người bệnh cần uống đủ thuốc, chính xác theo chỉ định của bác sĩ. Nếu không dùng thuốc đúng cách thì rất dễ xảy ra tình trạng kháng thuốc và có thể cần điều trị theo phác đồ mới.

Trong quá trình điều trị, người bệnh cần làm xét nghiệm máu để kiểm tra xem phác đồ hiện tại có hiệu quả giảm tải lượng virus hay không và số lượng tế bào CD4 có tăng lên hay không. Nếu nhận thấy một phác đồ điều trị không hiệu quả thì bác sĩ sẽ chuyển sang phác đồ khác.

Tác dụng phụ

Liệu pháp kháng virus có nhiều tác dụng phụ khác nhau và thường gặp nhất là buồn nôn, đau đầu và chóng mặt. Những hiện tượng này thường chỉ là tạm thời và tự hết sau một thời gian ngắn. Người bệnh có thể còn gặp phải các tác dụng phụ khác nghiêm trọng hơn như sưng phù miệng, lưỡi và tổn thương gan hoặc thận. Nếu xảy ra tác dụng phụ quá nghiêm trọng thì sẽ cần điều chỉnh các loại thuốc.

Ngăn ngừa HIV

Hiện tại vẫn chưa có loại vắc-xin để phòng ngừa HIV. Tuy nhiên, dưới đây là một số biện pháp mà bạn có thể thực hiện để tránh bị lây nhiễm căn bệnh này.

Quan hệ tình dục an toàn

Con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất là quan hệ tình dục qua đường hậu môn hoặc đường âm đạo mà không dùng bao cao su. Mặc dù cách duy nhất để tránh hoàn toàn rủi ro này là không quan hệ nhưng việc mang bao cao su cũng như các biện pháp bảo vệ an toàn khác sẽ giúp giảm đáng kể khả năng nhiễm bệnh. Nếu lo ngại rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV thì nên:

  • Đi xét nghiệm HIV để xác nhận tình trạng sức khỏe của bản thân và của bạn tình.
  • Xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) khác. Nếu xét nghiệm cho kết quả dương tính với một bệnh nào đó thì cần điều trị ngay vì việc mắc một bệnh STI sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm HIV.
  • Sử dụng bao cao su: Cần mang bao cao su đúng cách và sử dụng mỗi khi quan hệ tình dục, cho dù là quan hệ qua đường âm đạo hay hậu môn. Một điều quan trọng cần lưu ý là dịch tiết trước khi xuất tinh cũng có chứa HIV.
  • Không quan hệ với nhiều người
  • Uống thuốc theo chỉ dẫn khi được chẩn đoán nhiễm HIV để giảm nguy cơ truyền virus cho bạn tình.

Các biện pháp phòng ngừa khác

Ngoài các biện pháp nói trên thì còn có các biện pháp khác để ngăn ngừa sự lây nhiễm HIV như:

  • Tránh dùng chung kim tiêm hoặc vật dụng cá nhân: Vì HIV lây truyền qua máu nên một người có thể bị nhiễm bệnh nếu như sử dụng các vật dụng có dính virus.
  • Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP): một người đã bị phơi nhiễm HIV nên đi khám để được bác sĩ hướng dẫn về việc điều trị dự phòng sau phơi nhiễm. PEP giúp giảm nguy cơ nhiễm HIV. Liệu pháp này gồm có ba loại thuốc kháng virus được sử dụng trong vòng 28 ngày. PEP cần được bắt đầu càng sớm càng tốt sau khi phơi nhiễm nhưng không được quá 72 giờ.
  • Điều trị dự phòng trước phơi nhiễm: Những người có nguy cơ cao nhiễm HIV nên đến gặp bác sĩ để được tư vấn về việc điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP). Nếu được thực hiện liên tục, PrEP có thể làm giảm nguy cơ nhiễm HIV. PrEP là liệu pháp sử dụng kết hợp hai loại thuốc viên kháng virus.

Ngoài ra, khi tư vấn trực tiếp, bác sĩ sẽ có những hướng dẫn cụ thể hơn về cách phòng ngừa nhiễm HIV.

Những cách phòng ngừa STI

Sống chung với HIV

Khi nhiễm HIV, tình trạng sức khỏe và những vấn đề mà mỗi người gặp phải là khác nhau nhưng nếu điều trị đúng cách thì nhiều người vẫn có thể sống khỏe mạnh và có tuổi thọ như người bình thường.

Để được như vậy thì cần bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng virus càng sớm càng tốt. Bằng cách uống thuốc đúng theo chỉ định, những người nhiễm HIV có thể giữ cho tải lượng virus trong cơ thể ở mức thấp và duy trì chức năng hệ miễn dịch. Một điều quan trọng nữa là phải thường xuyên đi tái khám để theo dõi tình trạng bệnh.

Dưới đây là những điều mà người nhiễm HIV cần chú ý để bảo vệ sức khỏe bản thân và những người xung quanh:

  • Phải luôn chú ý giữ gìn và nâng cao sức khỏe tổng thể bằng cách:
    • Bổ sung đầy đủ chất cho cơ thể với chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh
    • Tập thể dục thường xuyên
    • Chú ý nghỉ ngơi đầy đủ
    • Không hút thuốc lá và các chất kích thích
    • Khi nhận thấy bất cứ dấu hiệu bất thường nào thì cần đi khám ngay lập tức
  • Chú ý đến sức khỏe tinh thần bằng cách suy nghĩ lạc quan, nếu cảm thấy chán nản, không thể tự vượt qua thì nên đến gặp chuyên gia trị liệu tâm lý để được tư vấn điều trị.
  • Quan hệ tình dục an toàn: Mặc dù khó khăn nhưng khi phát hiện nhiễm HIV thì nên nói với chồng/vợ, người yêu hoặc bạn tình của mình để đi xét nghiệm và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm hoặc trước phơi nhiễm. Luôn phải sử dụng biện pháp bảo vệ an toàn mỗi khi quan hệ tình dục. Ngoài ra, cả hai nên đi khám thường xuyên để theo dõi.
  • Nói chuyện với người thân: Khi một người bị nhiễm HIV, những người xung quanh cũng có thể bị nhiễm virus qua nhiều con đường khác nhau. Do đó, khi phát hiện bản thân nhiễm HIV thì cần nói với người thân để có cách phòng tránh. Khi được thực hiện thường xuyên, liệu pháp điều trị dự phòng trước phơi nhiễm và dự phòng sau phơi nhiễn là cách hữu hiệu để giảm nguy cơ lây nhiễm HIV.
  • Tham gia vào các nhóm đồng đẳng hay câu lạc bộ những người nhiễm HIV. Tại đây, người bệnh sẽ có cơ hội trò chuyện, gặp gỡ và nhận sự hỗ trợ, sẻ chia từ những người cũng đang bị HIV và phải đối mặt với những vấn đề tương tự để có động lực chống chọi với căn bệnh.

Tuổi thọ khi bị nhiễm HIV

Vào những năm 1990, một người 20 tuổi khi bị nhiễm HIV chỉ có thể sống được thêm 19 năm. Sang đến năm 2011, một người 20 tuổi bị nhiễm HIV có thể sống thêm được đến 53 năm.

Đây là một sự thay đổi đáng kể, phần lớn nhờ vào sự tiến bộ trong phương pháp điều trị HIV. Nếu được điều trị đúng cách, nhiều người nhiễm HIV thậm chí còn có tuổi thọ như người bình thường hoặc gần như người bình thường.

Tất nhiên, tuổi thọ của người nhiễm HIV còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như:

  • Số lượng tế bào CD4
  • Tải lượng virus
  • Các bệnh nghiêm trọng liên quan đến HIV, vi dụ như viêm gan
  • Sử dụng ma túy
  • Hút thuốc
  • Khả năng tiếp cận, tuân thủ và đáp ứng với liệu pháp điều trị
  • Các vấn đề về sức khỏe khác
  • Tuổi tác

Nơi sinh sống cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ khi nhiễm HIV. Những người sống ở các quốc gia phát triển hay những đô thị, thành phố lớn sẽ có khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị cao hơn. Việc sử dụng thường xuyên các loại thuốc kháng virus sẽ giúp ngăn ngừa HIV tiến triển thành AIDS. Khi HIV tiến triển thành AIDS và không điều trị thì người bệnh thường chỉ sống thêm được khoảng 3 năm hoặc chưa đến 3 năm nếu mắc bệnh nhiễm trùng cơ hội nghiêm trọng.

Tuy nhiên, những con số về tuổi thọ trung bình chỉ mang ý nghĩa tương đối. Người nhiễm HIV nên nói chuyện trực tiếp với bác sĩ để được biết về tình trạng cũng như là tuổi thọ cụ thể của mình.

Tìm hiểu thêm về tuổi thọ người nhiễm HIV

Có vắc-xin phòng HIV không?

Hiện tại chưa có vắc-xin để phòng và điều trị HIV/AIDS. Mặc dù các nghiên cứu và thử nghiệm vẫn đang tiếp tục được tiến hành để tìm ra vắc-xin HIV nhưng đến nay vẫn chưa có loại nào được chấp thuận đưa vào sử dụng.

HIV là một loại virus phức tạp. Nó biến đổi nhanh chóng và thường có khả năng chống lại các đáp ứng của hệ miễn dịch. Chỉ rất ít người nhiễm HIV có khả năng phát triển kháng thể trung hoà virus phổ rộng (bNAbs) - loại kháng thể có thể chống lại một loạt các chủng HIV.

Hiện nay, nghiên cứu đầu tiên về hiệu quả của vắc-xin HIV trong thời gian 7 năm đang được tiến hành ở Nam Phi. Vắc-xin được thử nghiệm này là phiên bản mới của loại vắc-xin đã được thử nghiệm năm 2009 tại Thái Lan. Vào thời điểm đó, kết quả tái khám 3.5 năm sau khi tiêm vắc-xin cho thấy vắc-xin có hiệu quả ngăn ngừa nhiễm HIV ở mức 31.2%. Đây là thử nghiệm vắc-xin HIV thành công nhất cho đến thời điểm hiện tại.

Nghiên cứu lần này được thực hiện trên 5.400 nam giới và phụ nữ đến từ Nam Phi. Đây là vùng có số người nhiễm HIV cao nhất trên Thế giới. Vào năm 2016 tại Nam Phi, có khoảng 270.000 người nhiễm HIV. Kết quả nghiên cứu dự kiến ​​sẽ có vào năm 2021.

Mặc dù vẫn chưa có vắc-xin để ngăn ngừa HIV nhưng những người nhiễm HIV có thể tiêm các loại vắc-xin khác để ngăn ngừa các bệnh liên quan đến HIV như:

  • Viêm phổi
  • Cúm
  • Viêm gan A và B
  • Viêm màng não
  • Bệnh zona

Các nghiên cứu khác về vắc-xin HIV cũng đang được tiến hành ở nhiều nơi trên Thế giới.

Lý do tại sao rất khó phát triển vắc-xin phòng HIV

Số liệu thống kê về HIV

Dưới đây là những con số để bạn hình dung về mức độ nguy hiểm của căn bệnh thế kỷ này:

Vào năm 2016, khoảng 36.7 triệu người trên toàn thế giới phải sống chung với HIV. Trong đó, 2.1 triệu là trẻ em dưới 15 tuổi.

Năm 2017, chỉ có 20.9 triệu người nhiễm HIV được điều trị bằng liệu pháp kháng virus.

Kể từ khi đại dịch bắt đầu, có 76.1 triệu người bị nhiễm HIV và các biến chứng liên quan đến AIDS đã cướp đi sinh mạng của 35 triệu người.

Vào năm 2016, 1 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến HIV/AIDS, giảm một nửa so với con số 1.9 triệu người vào năm 2005.

Đông Phi và Nam Phi là những vùng có số ca mắc HIV/AIDS cao nhất. Vào năm 2016, ước tính có khoảng 19.4 triệu người ở những vùng này phải sống chung với HIV và 790.000 ca nhiễm mới. Đây là vùng chiếm hơn một nửa tổng số ca nhiễm HIV trên toàn thế giới.

Nếu không được điều trị, nguy cơ truyền HIV từ mẹ sang con trong khi mang thai hoặc cho con bú là 25%. Nếu điều trị bằng liệu pháp kháng virus trong suốt thai kỳ và không cho con bú thì nguy cơ này sẽ được giảm xuống dưới 2%.

Vào những năm 1990, một người 20 tuổi bị nhiễm HIV có thể sống thêm 19 năm. Nhưng đến năm 2011, con số này đã tăng lên 53 năm. Ngày nay, tuổi thọ của người nhiễm HIV đã tương đương với người bình thường nếu bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng virus ngay sau khi phơi nhiễm.

Nhờ những bước tiến mới trong y học, hy vọng những con số khả quan cũng sẽ tiếp tục được cải thiện và thậm chí một ngày không xa có thể chữa khỏi căn bệnh này.

 

Thành viên
Chúng tôi trên facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây