Đặc điểm chung của bệnh thương hàn
1. Bệnh thương hàn là gì?
Bệnh thương hàn là một bệnh lý nhiễm trùng với tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Salmonella typhi. Người bệnh thường có các biểu hiện như mệt mỏi, sốt cao đột ngột và kéo dài, rối loạn tiêu hóa, ăn không ngon miệng. Thời gian tính từ khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể đến khi có triệu chứng lâm sàng trung bình khoảng từ 1 đến 2 tuần, thay đổi tùy theo số lượng vi khuẩn.
Theo thống kê, bệnh thương hàn xuất hiện nhiều vào các tháng mùa hè nhưng vẫn tồn tại vào các khoảng thời gian khác trong năm. Điều kiện sinh hoạt ô nhiễm, nguồn nước và thực phẩm không đảm bảo vệ sinh là những yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh. Vì thế ở những nước phát triển hay những vùng đô thị lớn, khi người dân được cung cấp nước sạch, hệ thống cống thoát nước hoạt động tốt, nhà vệ sinh sạch sẽ, nguồn thực phẩm vệ sinh, tỷ lệ mắc bệnh thương hàn rất thấp, chỉ ghi nhận các trường hợp bệnh rải rác và khó bùng phát thành dịch. Độ tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất dao động từ 15 đến 30 tuổi. Đây là nhóm đối tượng lao động, sinh sống và làm việc trong những điều kiện không an toàn.
2. Tác nhân gây bệnh thương hàn
Vi khuẩn Salmonella typhi hay trực khuẩn thương hàn là tác nhân gây bệnh thương hàn. Đây là một loại vi khuẩn gram âm, di động bằng lông chuyển và không sinh nha bào ở môi trường bên ngoài. Vi khuẩn Salmonella typhi có đặc điểm là sống được ở môi trường ngoài cơ thể, khoảng 2 đến 3 tuần trong môi trường nước, 2-3 tháng trong phân hoặc nước đá. Nhiệt độ cao là yếu tố có thể tiêu diệt được vi khuẩn, nhiệt độ càng cao thời gian để diệt vi khuẩn càng ngắn lại. Ngoài ra, vi khuẩn Salmonella còn có thể bị diệt bởi những chất diệt khuẩn thông thường.
3. Sốt thương hàn có lây không?
Bệnh sốt thương hàn là bệnh có tính lây nhiễm cao. Vi khuẩn Salmonella typhi xâm nhập vào cơ thể người theo hai con đường, trực tiếp và gián tiếp. Theo phương thức trực tiếp, vi khuẩn cư trú trong chất thải và đồ dùng cá nhân như áo quần của người bệnh và người lành mang bệnh sẽ xâm nhập vào cơ thể khác. Theo phương thức gián tiếp, vi khuẩn từ thức ăn và đồ uống bẩn đi vào cơ thể người theo đường tiêu hóa. Những loại thực phẩm sống, thói quen uống nước lã trực tiếp từ sông suối ao hồ, là những yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng nhiễm vi khuẩn Salmonella typhi. Bên cạnh đó, vật trung gian truyền bệnh như ruồi cũng đóng vai trò khá quan trọng. Ruồi là một trong những tác nhân gây nhiễm bẩn các loại thực phẩm và tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Phương thức gián tiếp cũng là đường lây chủ yếu của bệnh thương hàn, khiến bệnh dễ bùng phát thành dịch lớn.
4. Triệu chứng lâm sàng của bệnh thương hàn
Bệnh thương hàn có những biểu hiện khác nhau trên lâm sàng tùy theo từng người bệnh. Thông thường, bệnh nhân sẽ trải qua các dấu hiệu sau:
- Toàn thân mệt mỏi, nhức đầu, chán ăn
- Sốt: Xuất hiện đột ngột, tăng dần nhiệt độ trong những ngày sau. Sốt cao hơn về chiều tối, có khi kèm lạnh run. Nhiệt độ cơ thể có khi đạt đến ngưỡng 41 độ C. Sốt cao khiến người bệnh đau đầu, tổng trạng xấu hơn.
- Rối loạn tiêu hóa: Nhiễm vi khuẩn Salmonella typhi có thể khiến bệnh nhân táo bón hoặc tiêu chảy.
- Nổi ban đỏ: Ban đỏ trong bệnh sốt thương hàn có thể gặp ở nhiều vị trí trong cơ thể như ngực, lưng, tức chi. Các nốt ban có thể có dạng ban dát phẳng, ban đầu kim của sởi.
Bệnh thương hàn trải qua nhiều giai đoạn bệnh khác nhau. Tuần đầu tiên kể từ khi khởi phát các dấu hiệu của bệnh là thời kỳ tốt để điều trị. Bỏ qua giai đoạn này, tỷ lệ gặp phải các biến chứng sẽ tăng cao hơn, như viêm não màng não, thủng ruột, viêm xương tủy xương, viêm nội tâm mạc, ...
5. Chẩn đoán sốt thương hàn
Chẩn đoán một ca bệnh sốt thương hàn cần phối hợp nhiều yếu tố như đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng. Trong đó các triệu chứng lâm sàng mang tính chất gợi ý, và các xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán xác định bệnh. Xét nghiệm phổ biến nhất dùng để chẩn đoán bệnh là xét nghiệm phân, máu hoặc các bệnh phẩm khác tìm vi khuẩn Salmonella gây bệnh. Ngoài ra, xét nghiệm định lượng kháng thể trong máu cũng có giá trị chẩn đoán bệnh nếu hiệu giá kháng thể nằm ở mức cao hoặc có sự gia tăng đáng kể qua hai lần xét nghiệm.
6. Phương pháp điều trị bệnh thương hàn
Vì tính lây nhiễm cao, bệnh nhân sốt thương hàn cần được tiến hành điều trị tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Cách ly người bệnh và tiến hành điều trị tại chỗ để giảm thiểu khả năng lây lan.
- Theo dõi sát bệnh nhân để kịp thời phát hiện và chữa trị các biến chứng.
- Bước đầu điều trị bệnh bằng kháng sinh theo đúng phác đồ. Tình trạng kháng kháng sinh đang ngày càng phổ biến trong cộng đồng, vì thế việc lựa chọn kháng sinh nên dựa trên kết quả kháng sinh đồ. Kháng sinh được chọn có thể sử dụng dưới dạng tiêm hoặc uống tùy thuộc vào tình trạng bệnh cảnh nặng hay nhẹ của người bệnh.
7. Các biện pháp dự phòng bệnh sốt thương hàn
Bệnh sốt thương hàn là bệnh lý có thể dự phòng và giới hạn được nếu các biện pháp dự phòng được thực hiện tốt trong cộng đồng. Người dân cần phối hợp với các nhân viên y tế tuân theo những điều sau:
- Tuyên truyền kiến thức về sức khỏe đến những người xung quanh bằng nhiều hình thức như truyền hình, báo chí, tờ rơi hay các buổi sinh hoạt, thảo luận trực tiếp.
- Giữ gìn vệ sinh môi trường sống, nhất là nguồn nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu.
- Xử lý tốt các nguồn chất thải như phân, nước tiểu và rác thải.
- Nấu chín thức ăn, không ăn các loại thực phẩm sống không rõ nguồn gốc và chất lượng.
- Đun sôi nước uống, bỏ thói quen uống nước lã trực tiếp từ sông, suối, ao, hồ.
- Tiêm phòng: bệnh thương hàn đã có vắc-xin phòng bệnh với khả năng tạo miễn dịch tốt. Đây là biện pháp phòng bệnh chủ động cần được khuyến khích thực hiện, giúp giảm thiểu đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh trong cộng đồng. Loại vắc-xin được sử dụng phổ biến hiện nay là Vi-polysaccarit vì tính an toàn và hiệu quả cao.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Tiêm vắc xin MMR có khiến bé có nguy cơ mắc chứng tự kỷ nhiều hơn không?
- Con tôi tiêm vắc xin MMR có khiến bé có nguy cơ mắc chứng tự kỷ không, thưa bác sĩ? Tôi đọc nhiều tài liệu cho thấy trẻ tiêm vắc xin MMR dễ có nguy cơ mắc bệnh tự kỷ, nên tôi vô cùng lo lắng. Bác sĩ giải đáp giúp tôi với ạ!
- 1 trả lời
- 1536 lượt xem
Tiêm phòng có khiến bé có nguy cơ cao bị chứng rối loạn tăng động giảm chú ý không?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, việc tiêm phòng có làm bé có nguy cơ cao mắc chứng rối loạn tăng động, giảm chú ý không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1646 lượt xem
Rủi ro và lợi ích khi hoãn việc tiêm chủng cho bé là gì?
- Thưa bác sĩ, bé nhà tôi còn có quá nhỏ và không có khả năng tự vệ nên thật khó khăn khi nhìn bé phải chịu nhiều mũi tiêm. Liệu tôi có nên cho bé tiêm phòng khi bé lớn hơn một chút và khi hệ miễn dịch của bé phát triển hơn hay không?
- 1 trả lời
- 1289 lượt xem
Bé có cần tiêm liều bổ sung nhắc lại không nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã có miễn dịch với bệnh?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, bé nhà tôi có cần phải tiêm liều vắc xin bổ sung nhắc lại không, nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã miễn dịch với bệnh? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1709 lượt xem
Nếu không ai mắc những bệnh này nữa, tại sao trẻ vẫn cần tiêm phòng?
- Tôi có một thắc mắc là nếu không ai mắc bệnh nữa, tại sao vẫn phải cho trẻ tiêm phòng? Bác sĩ giải đáp giúp tôi!
- 1 trả lời
- 1381 lượt xem
Đưa vi khuẩn vào cơ thể để tạo miễn dịch - ý tưởng chính từ việc tiêm chủng – dường như có vẻ là một ý tưởng hiện đại, nhưng thực tế nó đã trải qua hàng thế kỷ. Lịch sử thú vị của bệnh đậu mùa đã tiết lộ khoảng thời gian áp dụng ý tưởng tuyệt vời này.
Vắc xin Hib bảo vệ trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn nặng, phần lớn ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi. Vi khuẩn có thể gây viêm nắp thanh quản (sưng nặng ở cổ họng gây khó thở), một dạng viêm phổi nghiêm trọng và một loại bệnh gọi là viêm màng não do vi khuẩn.
Vắc xin cho hiệu quả khá ấn tượng, nhưng bạn vẫn có thể mắc bệnh dù đã tiêm phòng rồi.
Có một số người băn khoăn là Vắc - xin viên gan B có làm tăng nguy cơ mắc bệnh đa xơ cứng không? Hãy tìm hiểu qua bài viết đưới đây để cùng có câu trả lời nhé!
Nguồn dinh dưỡng chất lượng hơn và áp dụng biện pháp vệ sinh tốt hơn thực sự đã cải thiện cuộc sống của chúng ta - chúng ta đang cao hơn, khỏe mạnh hơn và sạch sẽ hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, nhìn vào tỷ lệ mắc bệnh thực tế trong nhưng năm qua, không còn nghi ngờ gì nữa, vắc xin mới là yếu tố đóng vai trò chính trong hiệu quả làm suy giảm các ca bệnh mà chúng phòng chống.





