1

Stress có thể dẫn đến đột quỵ

Theo nghiên cứu, cả stress cấp tính và mạn tính đều có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Tuy nhiên, có nhiều cách để kiểm soát stress và giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.
Stress có thể dẫn đến đột quỵ Stress có thể dẫn đến đột quỵ

Đột quỵ xảy ra khi lưu lượng máu đến một phần não bị gián đoạn. Nguyên nhân dẫn đến điều này có thể là do cục máu đông hoặc vỡ mạch máu. Các dấu hiệu thường gặp gồm có yếu cơ đột ngột, lú lẫn, thay đổi thị giác và khó nói hoặc nói ngọng.

Đột quỵ hay tai biến mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong trên toàn thế giới. Có rất nhiều vấn đề khác nhau có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Ví dụ, cholesterol cao và huyết áp cao không được kiểm soát đều làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông và tắc nghẽn động mạch, những tình trạng này sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề khác cũng có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ và stress hay căng thẳng cũng là một trong số đó.

Nghiên cứu cho thấy stress về tinh thần có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ và các biến cố tim mạch khác. Cả stress mạn tính (dài hạn) và stress cấp tính (ngắn hạn) đều có ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạnh.

Mối liên hệ giữa stress và đột quỵ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa stress và đột quỵ.

Theo một nghiên cứu lớn vào năm 2022 với hơn 26.000 người tham gia, những người bị căng thẳng tâm lý xã hội (psychosocial stress) trong vòng 12 tháng trước đó có nguy cơ bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ và xuất huyết não cao hơn. Tương tư, căng thẳng do công việc, gia đình hoặc do vấn đề về tài chính cũng có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Các nhà nghiên cứu còn xác định rằng mối liên hệ giữa đột quỵ và stress không liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội, nghề nghiệp hay trình độ học vấn. Điều này có nghĩa là người ở bất kỳ trình độ học vấn nào, làm công việc gì, ngành nghề nào, thu nhập là bao nhiêu cũng đều sẽ có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn khi bị stress.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong một số trường hợp, mối liên hệ giữa đột quỵ và stress không phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ vấn đề tim mạch như cao huyết áp, hút thuốc lá hay chế độ ăn uống không lành mạnh.

Ảnh hưởng của lối sống đến nguy cơ đột quỵ

Một nghiên cứu nhỏ vào năm 2023 đã xác định rằng một số yếu tố về lối sống nhất định có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Loại đột quỵ này xảy ra do cục máu đông hoặc chất béo tích tụ trong mạch máu. Những yếu tố này gồm có:

  • Trầm cảm
  • Kết hôn
  • Trình độ học vấn thấp
  • Stress

Nghiên cứu này còn cho thấy trầm cảm và stress trước đột quỵ có liên quan chặt chẽ đến mức độ nghiêm trọng của cơn đột quỵ.

Stress và sức khỏe tim mạch

Theo một nghiên cứu vào năm 2016, cả stress cấp tính (ngắn hạn) và mạn tính (kéo dài hoặc xảy ra thường xuyên) đều có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Theo nghiên cứu này, stress ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch và có thể dẫn đến những thay đổi về huyết áp cũng như nguy cơ hình thành cục máu đông. Những yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Stress có nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch. Ví dụ, stress có thể khiến cho các động mạch thu hẹp lại và dẫn đến tăng huyết áp.

Stress còn có thể làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông. Điều này dẫn đến tắc nghẽn mạch máu và cục máu đông có thể bị vỡ ra, sau đó di chuyển đến não và dẫn đến đột quỵ.

Ngoài ra, stress mạn tính cũng dẫn đến nhiều vấn đề khác làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột ngột:

  • Cao huyết áp
  • Viêm
  • Tăng cholesterol

Mối liên hệ giữa stress và lối sống

Nghiên cứu cho thấy những người có mức độ stress mạn tính cao thường có lối sống kém lành mạnh hơn, ví dụ như:

  • Ít tập thể dục hơn
  • Ngủ không đủ giấc
  • Hút thuốc lá
  • Uống nhiều rượu
  • Ăn uống những đồ không lành mạnh để giảm stress
  • Tăng cân do ít vận động và ăn uống không lành mạnh

Tất cả những yếu tố này đều làm tăng nguy cơ đột quỵ. Như vậy, stress không những trực tiếp làm tăng nguy cơ đột quỵ mà những yếu tố lối sống đi kèm với stress cũng có thể làm tăng nguy cơ.

Stress gây ra những loại đột quỵ nào?

Có hai loại đột quỵ chính:

  • Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: xảy ra khi cục máu đông ngăn cản máu lưu thông đến một phần của não. Cục máu đông thường hình thành khi mảng xơ vữa trong mạch máu bị vỡ ra và làm tắc nghẽn mạch máu.
  • Đột quỵ xuất huyết não: xảy ra khi mạch máu bị vỡ một phần hoặc toàn bộ. Điều này khiến cho máu chảy vào các mô xung quanh và giảm lưu lượng máu đến một phần của não.

Cơn thiếu máu não thoáng qua (transient ischemic attack) hay còn được gọi là đột quỵ nhẹ khác với hai loại đột quỵ trên ở chỗ sự lưu thông máu đến não chỉ bị gián đoạn tạm thời, thường là dưới 5 phút.

Mặc dù các triệu chứng của cơn thiếu máu não thoáng qua đa phần không kéo dài mà sẽ tự biến mất nhưng có thể là dấu hiệu của cơn đột quỵ nghiêm trọng hơn. Trên thực tế, khoảng 10% đến 15% số người bị cơn thiếu máu não thoáng qua bị đột quỵ trong vòng 3 tháng sau đó. Phát hiện và điều trị cơn thiếu máu não thoáng qua có thể giúp giảm nguy cơ bị đột quỵ nghiêm trọng.

Một nghiên cứu vào năm 2014 cho thấy mức độ stress cao làm tăng nguy cơ xảy ra cơn thiếu máu não thoáng qua. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu khác chưa khẳng định mối liên hệ trực tiếp giữa stress và bất kỳ loại đột quỵ cụ thể nào.

Các dấu hiệu của cơn đột quỵ

Cơn thiếu máu não thoáng qua có thể là dấu hiệu của cơn đột quỵ nghiêm trọng hơn. Một số triệu chứng của cơn thiếu máu não thoáng qua giống với triệu chứng khi lo lắng và do đó bị bỏ qua.

Các dấu hiệu thường gặp của cơn đột quỵ, gồm có cơn thiếu máu não thoáng qua, gồm có:

  • Lú lẫn đột ngột
  • Khó nói hoặc nói ngọng
  • Thay đổi thị giác
  • Mất thăng bằng
  • Chóng mặt
  • Mất điều hòa (mất khả năng phối hợp động tác)
  • Tê hoặc yếu cơ ở mặt, cánh tay hoặc chân
  • Xệ một bên mặt
  • Nhức đầu dữ dội mà không rõ nguyên nhân

Stress cũng có thể gây ra các vấn đề tương tự. Ví dụ, những người đang bị stress có thể gặp khó khăn trong việc suy nghĩ hoặc diễn đạt một cách rõ ràng. Người bị stress cũng có thể bị chóng mặt hoặc ngất xỉu.

Tuy nhiên, các dấu hiệu của cơn thiếu máu não thoáng qua và triệu chứng stress có điểm khác biệt là các dấu hiệu của cơn thiếu máu não thoáng qua xuất hiện đột ngột trong khi các triệu chứng stress thường xảy ra từ từ.

Khi bị lú lẫn, khó nói, chóng mặt hoặc tê, tốt nhất bạn nên đi khám ngay, đừng chờ các triệu chứng biến mất.

Chẩn đoán và điều trị

Hãy gọi cấp cứu hoặc đến ngay bệnh viện gần nhất khi gặp bất kỳ triệu chứng nào kể trên. Phát hiện và điều trị kịp thời cơn đột quỵ sẽ giúp ngăn ngừa tổn thương não.

Để chẩn đoán đột quỵ, các bác sĩ sẽ sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh để xem có cục máu đông, xuất huyết hoặc vấn đề khác hay không. Chụp CT hoặc MRI có thể phát hiện tình trạng xuất huyết, tắc nghẽn hoặc khối u trong não.

Sau khi xác nhận đột quỵ, việc điều trị cần bắt đầu ngay lập tức. Điều trị kịp thời sẽ giúp làm giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng lâu dài.

Các phương pháp điều trị đột quỵ gồm có dùng thuốc để làm vỡ cục máu đông hoặc thủ thuật loại bỏ cục máu đông. Nếu đột quỵ do xuất huyết não thì cần tiến hành thủ thuật để đóng mạch máu bị vỡ và khôi phục lưu thông máu.

Phòng ngừa đột quỵ

Giảm stress có thể giảm nguy cơ đột quỵ. Các biện pháp giảm stress:

  • Hít thở sâu và chậm để làm giảm nhịp tim và huyết áp.
  • Nghe nhạc êm dịu: có thể giúp bạn bình tĩnh và cảm thấy thư giãn hơn.
  • Tập thể dục: chỉ cần tập thể dục nhẹ nhang vài phút cũng đủ để giảm căng thẳng và hạ huyết áp.

Ngoài các biện pháp giảm stress tức thì này, bạn có thể thực hiện thêm các biện pháp sau đây để giảm nguy cơ đột quỵ do stress:

  • Ngủ đủ giấc: Thiếu ngủ sẽ làm tăng nồng độ hormone stress và tình trạng viêm trong cơ thể, những điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch. Mặt khác, ngủ đủ giấc sẽ giúp làm giảm tác động của stress lên cơ thể.
  • Ăn uống lành mạnh: Nhiều người thường ăn uống kém lành mạnh khi bị stress. Ăn uống cân bằng, lành mạnh sẽ giúp giảm tác động của stress đến sức khỏe tim mạch và toàn bộ cơ thể.
  • Tránh các thói quen xấu khi bị stress: Không nên giảm stress bằng cách hút thuốc hoặc uống rượu bia. Thay vào đó, hãy thử những biện pháp kiểm soát stress lành mạnh hơn, ví dụ như đi dạo, nói chuyện với bạn bè, nghe nhạc, xem phim hoặc dành thời gian cho một sở thích.

Tóm tắt bài viết

Stress gây ra nhiều tác động tiêu cực đến cơ thể, một trong số đó là tăng nguy cơ đột quỵ.

Tuy nhiên, có nhiều cách để giảm stress, gồm có hít thở sâu, nghe nhạc và tập thể dục. Ngoài ra còn có những biện pháp để giảm nguy cơ đột quỵ do stress, gồm có ăn uống cân bằng, ngủ đủ giấc và thực hiện các biện pháp kiểm soát stress lành mạnh.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Đột quỵ ảnh hưởng như thế nào đến cơ thể?
Đột quỵ ảnh hưởng như thế nào đến cơ thể?

Đột quỵ có thể ảnh hưởng đến nhiều vùng trên cơ thể, tùy thuộc vào phần não bị ảnh hưởng. Một số biến chứng có thể kéo dài, thậm chí là tồn tại vĩnh viễn sau cơn đột quỵ.

Làm thế nào để tầm soát đột quỵ?
Làm thế nào để tầm soát đột quỵ?

Đột quỵ đôi khi xảy ra mà không có dấu hiệu cảnh báo trước, nhưng có những phương pháp giúp đánh giá nguy cơ đột quỵ, gồm có thang điểm ASCVD và siêu âm động mạch cảnh.

Làm thế nào để ngăn chặn cơn đột quỵ?
Làm thế nào để ngăn chặn cơn đột quỵ?

Nếu bạn cho rằng mình hoặc một người thân đang bị đột quỵ, hãy gọi cấp cứu ngay lập tức. Can thiệp điều trị sớm sẽ giúp giảm nguy cơ tổn thương não và ngăn ngừa biến chứng.

Sau đột quỵ bao lâu thì có thể đi lại bình thường?
Sau đột quỵ bao lâu thì có thể đi lại bình thường?

Khả năng đi lại có thể bị ảnh hưởng sau đột quỵ. Nhưng nhờ có các phương pháp điều trị hiệu quả hiện nay, có tới 85% số người sống sót sau đột quỵ có thể tự đi lại trong vòng 6 tháng. Người bệnh có thể phải sử dụng các biện pháp hỗ trợ đi lại trong khoảnh thời gian đầu sau đột quỵ nhưng sau đó có thể tự đi lại mà không cần dụng cụ hỗ trợ.

Thế nào là đột quỵ chu sinh?
Thế nào là đột quỵ chu sinh?

Đột quỵ chu sinh là một loại tổn thương não xảy ra ở trẻ sơ sinh do sự lưu thông máu đến não giảm trước hoặc ngay sau khi sinh.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây