1

Thế nào là đột quỵ chu sinh?

Đột quỵ chu sinh là một loại tổn thương não xảy ra ở trẻ sơ sinh do sự lưu thông máu đến não giảm trước hoặc ngay sau khi sinh.
Thế nào là đột quỵ chu sinh? Thế nào là đột quỵ chu sinh?

Đột quỵ chu sinh là tình trạng tổn thương não xảy ra trong khoảng thời gian từ tuần thứ 20 của thai kỳ đến ngày thứ 28 sau khi sinh, thường là do sự lưu thông máu đến não bị gián đoạn hoặc não bị thiếu oxy.

Đột quỵ chu sinh có thể gây ra các tác động từ nhẹ đến nghiêm trọng, gồm có giảm khả năng vận động, suy nghĩ hay hành vi bất thường. Những vấn đề này có thể kéo dài suốt đời.

Nguyên nhân gây đột quỵ chu sinh

Đột quỵ chu sinh xảy ra do sự lưu thông máu đến não bị gián đoạn trước hoặc ngay sau khi sinh. Điều này có thể là do nhiều nguyên nhân gây ra.

  • Cục máu đông (huyết khối): Cục máu đông sẽ cản trở sự lưu thông máu trong mạch máu, khiến cho não không được cung cấp oxy và chất dinh dưỡng.
  • Xuất huyết (chảy máu) trong não: Tình trạng này sẽ làm tổn thương mô não.
  • Vấn đề về mạch máu: Sự bất thường hoặc tổn thương mạch máu có thể làm giảm sự lưu thông máu.
  • Nhiễm trùng và viêm: Những tình trạng này có thể ảnh hưởng đến sự lưu thông máu và góp phần làm tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Sự cố khi sinh, ví dụ như trẻ sơ sinh bị ngạt. Điều này khiến cho trẻ sơ sinh không nhận được đủ oxy và làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Nghiên cứu cho thấy các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ động mạch chu sinh gồm có:

  • Sinh mổ khẩn cấp
  • Ngạt khi sinh
  • Điểm Apgar thấp (điểm Apgar là thang điểm đánh giá nhanh tình trạng sức khỏe của trẻ ngay sau khi sinh)

Các loại đột quỵ chu sinh

Đột quỵ chu sinh được định nghĩa là đột quỵ xảy ra trong khoảng thời gian từ tuần 20 của thai kỳ cho đến ngày thứ 28 sau khi sinh. Gần như không thể phát hiện đột quỵ ở thai nhi trước tuần 20 của thai kỳ.

Đột quỵ chu sinh được chia làm nhiều loại:

  • Đột quỵ do thiếu máu cục bộ động mạch chu sinh: Loại đột quỵ này là do lưu lượng máu trong động mạch não bị giảm. Cứ 4.000 ca sinh nở thì có một ca bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ động mạch chu sinh. Loại đột quỵ này có thể dẫn đến các biến chứng về khả năng vận động, nhận thức và hành vi.
  • Đột quỵ do thiếu máu cục bộ động mạch ở trẻ sơ sinh: Thực ra đây là một dạng đột quỵ do thiếu máu cục bộ động mạch chu sinh, xảy ra trong vòng 28 ngày đầu sau khi sinh. Loại đột quỵ này là do động mạch não bị tắc nghẽn, làm giảm sự lưu thông máu giàu oxy đến não. Đột quỵ do thiếu máu cục bộ động mạch ở trẻ sơ sinh phổ biến hơn ở trẻ sinh non, đặc biệt là những trẻ sinh trước tuần 34 của thai kỳ. Những trẻ bị tình trạng này có tỷ lệ tử vong là 3%.
  • Đột quỵ xuất huyết não ở trẻ sơ sinh: Loại đột quỵ này xảy ra do chảy máu trong não, thường là do chấn thương trong khi sinh hoặc rối loạn đông máu. Theo một nghiên cứu vào năm 2017, cứ 6.300 ca sinh nở thì có một ca bị đột quỵ xuất huyết não ở trẻ sơ sinh. Nghiên cứu cũng cho thấy khoảng 50% trẻ sơ sinh bị tình trạng này gặp phải các biến chứng như chậm phát triển vận động, kỹ năng cảm quan và bệnh động kinh.
  • Đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở thai nhi: Loại đột quỵ này xảy ra trước khi sinh, thường được phát hiện qua các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh.
  • Huyết khối xoang tĩnh mạch não: Huyết khối xoang tĩnh mạch não ở trẻ sơ sinh là một tình trạng hiếm gặp có thể gây ra các vấn đề về thần kinh lâu dài. Tình trạng này xảy ra khi cục máu đông hình thành trong các xoang tĩnh mạch của não, gây cản trở dòng máu và làm tăng áp lực nội sọ. Các yếu tố nguy cơ chính gồm có mẹ bị rối loạn đông máu, sinh khó, thiếu oxy khi sinh và cần hỗ trợ hô hấp.

Triệu chứng của đột quỵ chu sinh

Các triệu chứng của đột quỵ chu sinh gồm có:

  • Co giật
  • Yếu cơ
  • Ăn kém
  • Trương lực cơ bất thường
  • Vận động bất đối xứng
  • Chậm phát triển
  • Thay đổi trạng thái tâm thần
  • Khả năng phối hợp động tác kém
  • Vấn đề về hô hấp

Trẻ có thể có các triệu chứng rõ ràng ngay từ khi sinh ra. Nếu các triệu chứng nhẹ và ảnh hưởng đến các kỹ năng phát triển ở giai đoạn sau như đi lại hoặc học tập thì phải đến khi trẻ lớn hơn mới có thể phát hiện ra.

Điều trị đột quỵ chu sinh

Mục tiêu chính của các phương pháp điều trị đột quỵ chu sinh là giúp trẻ ổn định và giải quyết các biến chứng. Các phương pháp điều trị chính gồm có:

  • Chăm sóc hỗ trợ nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của trẻ, gồm có duy trì nồng độ oxy, thân nhiệt và lượng nước trong cơ thể.
  • Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như chụp MRI hoặc CT để xác nhận đột quỵ và đánh giá mức độ nghiêm trọng của cơn đột quỵ.
  • Theo dõi liên tục tình trạng thần kinh, các dấu hiệu sinh tồn và các biến chứng phát sinh, chẳng hạn như tăng áp lực nội sọ.
  • Kiểm soát co giật: sử dụng thuốc chống động kinh để kiểm soát các cơn co giật, một triệu chứng phổ biến của đột quỵ chu sinh. Những loại thuốc này cũng có thể được sử dụng để ngăn ngừa co giật.
  • Thuốc chống đông máu: Nếu cục máu đông là nguyên nhân gây đột quỵ, trẻ sẽ được cho dùng thuốc chống đông máu để ngăn ngừa hình thành cục máu đông mới. Tuy nhiên, hầu hết các ca đột quỵ chu sinh đều được phát hiện muộn, khi các loại thuốc này không còn hiệu quả.
  • Vật lý trị liệu hoặc hoạt động trị liệu: Các phương pháp trị liệu này nhằm khắc phục những vấn đề mà trẻ gặp phải do đột quỵ. Các liệu pháp thường được sử dụng gồm có liệu pháp kích thích phản xạ nuốt, hỗ trợ hô hấp,…

Tiên lượng của trẻ bị đột quỵ chu sinh

Tiên lượng của mỗi ca đột quỵ chu sinh là khác nhau.

Một số nghiên cứu cho thấy hơn 40% trẻ sơ sinh bị đột quỵ chu sinh có kết quả kém. (1) Tuy nhiên, việc xác định những thứ như tỷ lệ tử vong còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vì vậy tốt nhất cha mẹ nên trao đổi với bác sĩ để hiểu về tiên lượng cụ thể của trẻ.

Một nghiên cứu dài hạn về đột quỵ xuất huyết não chu sinh chỉ ra rằng mặc dù loại đột quỵ này có tỷ lệ tử vong cao (20%) nhưng hầu hết trẻ sơ sinh sống sót chỉ bị thiếu hụt nhẹ kỹ năng khi được 1 tuổi. (2)

Nhìn chung, đột quỵ chu sinh có thể dẫn đến nhiều biến chứng lâu dài khác nhau tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và vị trí tổn thương não. Một số biến chứng lâu dài của đột quỵ chu sinh gồm có:

  • Bại não
  • Bệnh động kinh
  • Suy giảm nhận thức (trí nhớ, khả năng tập trung, giải quyết vấn đề)
  • Kỹ năng ngôn ngữ kém
  • Vấn đề về hành vi và cảm xúc (khó khăn trong giao tiếp xã hội, lo âu, trầm cảm)
  • Vấn đề về thị lực và các giác quan khác

Bằng chứng gần đây cho thấy đột quỵ chu sinh, đặc biệt là đột quỵ do thiếu oxy khi sinh, là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh bại não liệt nửa người.

Ở một số trẻ bị đột quỵ chu sinh, các triệu chứng của vấn đề về thần kinh, chẳng hạn như yếu cơ ở một bên cơ thể (liệt nửa người) không biểu hiện ngay sau khi sinh mà phải vài tháng sau mới xuất hiện.

Tóm tắt bài viết

Đột quỵ chu sinh là một loại tổn thương não xảy ra ở giai đoạn cuối của thai kỳ cho đến khoảng một tháng đầu sau sinh. Các phương pháp điều trị chính gồm dùng thuốc, trị liệu và chăm sóc hỗ trợ, nhằm mục đích chính là kiểm soát các triệu chứng. Can thiệp điều trị sớm sẽ cải thiện tiên lượng, giúp trẻ sống tốt hơn về sau này.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây