Tiếp cận chẩn đoán và điều trị phản ứng sau tiêm vắc-xin
Các loại hình tổn thương do phản ứng sau tiêm vắc-xin bao gồm: mày đay, phù Quincke hay sốc phản vệ, ban mụn mủ... Tổn thương tại chỗ hay toàn thân? Phân biệt phản ứng quá mẫn nhanh và chậm ở bệnh nhân dị ứng vắc-xin là cần thiết vì chúng ta phải lựa chọn xét nghiệm phù hợp để chẩn đoán, lựa chọn điều trị.
1.Đối với phản ứng quá mẫn nhanh
Test lẩy da với vắc-xin và các thành phần của vắc-xin hoặc phát hiện IgE đặc hiệu trong máu có thể có vai trò quan trọng để xác định nguyên nhân gây dị ứng.
Đối với bệnh nhân có biểu hiện phản ứng nhanh qua trung gian IgE, xét nghiệm dị ứng được chỉ định nếu bệnh nhân cần tiếp tục tiêm vắc-xin nghi ngờ gây phản ứng. Tuy nhiên chúng ta cũng cần biết một điều quan trọng là các test dị ứng trong chẩn đoán tình trạng quá mẫn với vắc-xin không được chuẩn hóa và không nhiều giá trị. Khi thực hiện test, vắc-xin phải còn nguyên vẹn và phải cùng nhà sản xuất để đảm bảo tính toàn vẹn và đảm bảo các thành phần tương tự trong vắc-xin.
Test da được thực hiện theo khuyến cáo theo hướng dẫn giống cho các bệnh dị ứng khác. Do tình trạng kích ứng cao của test với vắc-xin gây ra phản ứng dương tính giả, test nội bì với nồng độ không pha loãng nên được bỏ qua do đặc tính này. Hơn nữa, các phản ứng tại chỗ thường xảy ra với hầu hết các vắc-xin với nồng độ 1/10 do đó trường hợp này cũng không phải là phản ứng dị ứng.
Trong trường hợp nhạy cảm với hợp chất của vắc-xin được loại trừ, bệnh nhân có phản ứng quá mẫn nhanh có thể được dùng lại vắc-xin, tuy nhiên phải được theo dõi một cách cẩn thận của bác sỹ chuyên khoa và tại trung tâm có thể cấp cứu sốc phản vệ.
Chú ý: Xét nghiệm nội bì với vắc-xin nồng độ pha loãng 1/10 có thể gây dương tính giả do tình trạng kích ứng.
2. Đối với dị ứng chậm:
Test áp là chỉ định chủ yếu khi bệnh nhân có biểu hiện dị ứng chậm biểu hiện toàn thân. Tuy nhiên không có giá trị tiên lượng và độ nhạy thấp.
3. Điều trị
3.1 Điều trị phản ứng tại chỗ
Chườm đá tại chỗ tiêm.
Nếu bệnh nhân đau nhiều có thể chỉ định acetaminophen hoặc ibuprofen.
Acetaminophen:
- Trẻ em (<12 tuổi) liều: 15 mg/kg/liều uống mỗi 4-6 giờ nếu cần
- Người lớn (>12 tuổi) liều: 650 mg liều uống mỗi 4-6 giờ nếu cần.
Ibuprofen:
- Trẻ em (<12 tuổi) liều: 5-10 mg/kg/liều uống mỗi 6-8 giờ nếu cần.
- Người lớn (>12 tuổi) lều: 5-10 mg/kg/liều uống mỗi 6-8 giờ nếu cần.
Nếu có biểu hiện dị ứng, ngứa tại chỗ có thể sử dụng kháng histamine đường uống.
Nếu các triệu chứng thuyên giảm, theo dõi bệnh nhân trong vòng 30 phút tiếp theo. Nếu cho bệnh nhân về cần lưu số điện thoại liên lạc để theo dõi bệnh nhân mỗi 4 – 6 giờ hoặc ngược lại tham vấn cho bệnh nhân và người nhà nếu xuất hiện bất thường.
3.2 Điều trị các phản ứng phản vệ
Điều trị các phản ứng phản vệ nhẹ:
Các biểu hiện thường gặp là mày đay và phù mạch (Quincke). Thuốc được lựa chọn là kháng histamine. Nếu triệu chứng nặng, toàn thân cân nhắc dùng thêm corticosteroid.
Điều trị sốc phản vệ do vắc-xin:
Điều trị như sốc phản vệ với các nguyên nhân khác. Đảm bảo theo nguyên tắc trong cấp cứu, epinephrine là thuốc quan trọng nhất và là lựa chọn hàng đầu trong điều trị sốc phản vệ. (Tham khảo phần bài sốc phản vệ). Lưu ý:
Epinephrine (Adrenalin)
- Tiêm adrenalin 0.01ml/kg dung dịch 1/1000 (tối đa 0.5ml) vào vùng cơ lớn. Tốt nhất là cơ tứ đầu đùi vì thuốc hấp thu nhanh và nồng độ đạt đỉnh trong huyết thanh nhanh. Nhắc lại liều như trên mỗi 3-5 phút nếu bệnh nhân không cải thiện.
- Không dùng đường tiêm dưới da vì khả năng hấp thu chậm hơn đường tiêm trong cơ.
- Không dùng tiêm bolus adrenalin tĩnh mạch trừ khi có ngừng tim
Bảng: Liều adrenalin theo nhóm tuổi
| Adrenalin 1:1000, tiêm bắp | Nhắc lại sau mỗi 5 phút nếu không cải thiện |
| Người lớn | 0.5 mL(500 micrograms) |
| Trẻ em trên 12 tuổi | 0.3-0.5 mL (300-500 micrograms) |
| Trẻ em 6-12 tuổi | 0.3 mL (300 - micrograms) |
| Trẻ em dưới 6 tuổi | 0.15 mL (150 micrograms) |
- Truyền adrenalin liều 0,05 -1mcg/kg/phút nếu nhắc lại liều tiêm trong cơ không đáp ứng.
- Nếu có tình trạng sốc, cần truyền bù dịch với liều 20ml/kg muối đẳng trương 0.9%.
- Khí dung adrenalin không được khuyến cáo như là một liệu pháp đầu tay. Liệu pháp này có thể áp dụng phối hợp với tiêm adrenalin trong cơ nếu bệnh nhân có biểu hiện tắc nghẽn phù nề đường thở trên.
Kháng histamine và corticoid.
- Chưa có bằng chứng nghiên cứu bằng các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng về lợi ích của kháng histamine và corticoid trong điều trị cấp cứu phản vệ mức độ nặng có nguy cơ đe dọa mạng sống. Tuy nhiên các thuốc này có thể làm cải thiện các triệu da niêm mạc như mày đay.
- Một số tác giả cho rằng corticoid có vai trò ngăn chặn pha chậm trong phản vệ hai pha. Trong các hướng dẫn điều trị phản vệ vẫn khuyến cáo sử dụng corticoid và kháng histamine như những điều trị thường quy và mang tính kinh nghiệm, mức độ bằng chứng yếu.
- Kháng histamine nên được lựa chọn chế phẩm dưới dạng tiêm vì tác dụng nhanh. Nghiên cứu so sánh thời gian tác dụng ức chế 1⁄2 số lượng thụ thể histamine và cải thiện triệu chứng ngứa trên bệnh nhân cho thấy dùng phenylhydramine dụng tiêm bắp mất 72 phút trong khi dùng fexofenadine mất 102 phút. Khuyến cáo dùng kháng histamine thế hệ 2. Cần lưu ý promethazine có thể gây hạ huyết áp.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Trẻ có thể vẫn bị bệnh sau khi đã được tiêm phòng?
-Thưa bác sĩ, trẻ đã tiêm phòng vẫn có thể bị bệnh, phải không ạ?
- 1 trả lời
- 1249 lượt xem
Bé có cần tiêm liều bổ sung nhắc lại không nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã có miễn dịch với bệnh?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, bé nhà tôi có cần phải tiêm liều vắc xin bổ sung nhắc lại không, nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã miễn dịch với bệnh? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1899 lượt xem
Nếu không ai mắc những bệnh này nữa, tại sao trẻ vẫn cần tiêm phòng?
- Tôi có một thắc mắc là nếu không ai mắc bệnh nữa, tại sao vẫn phải cho trẻ tiêm phòng? Bác sĩ giải đáp giúp tôi!
- 1 trả lời
- 1541 lượt xem
Tiêm phòng có khiến bé có nguy cơ cao bị chứng rối loạn tăng động giảm chú ý không?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, việc tiêm phòng có làm bé có nguy cơ cao mắc chứng rối loạn tăng động, giảm chú ý không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1840 lượt xem
Làm gì để giảm áp lực của việc tiêm phòng đối với bé?
- Bác sĩ ơi, có cách nào để cha mẹ giúp bé giảm áp lực của việc tiêm vắc xin không ạ? Bé nhà em mỗi lần bước vào phòng tiêm là quấy khóc, đòi đi về, không chịu hợp tác với bác sĩ. Bác sĩ giúp em với ạ!
- 1 trả lời
- 1267 lượt xem
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị bệnh cúm thường có nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2015-2016, cúm có liên quan đến cái chết của hơn 80 trẻ em ở nước Mỹ.
Ở người bị bệnh, Neisseria meningitidis sống ở vùng hầu họng và lây lan qua các giọt nhỏ ở đường thở hoặc chất tiết ở cổ họng. Ho, hắt hơi, hôn và dùng chung chai nước hoặc dụng cụ sẽ dẫn đến lây bệnh.
Tiêm phòng được thiết kế để bảo vệ chống lại các bệnh nặng, từ bệnh bại liệt và uốn ván đến bệnh sởi, quai bị, và cúm mùa. Nhiều người coi tiêm phòng là phần quan trọng nhất trong việc khám và chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Nhiều phụ huynh lo ngại tiêm phòng có khiến trẻ có nguy cơ bị hen suyễn cao hơn không? Cùng tìm ra câu trả lời trong bài viết dưới đây!
Nguồn dinh dưỡng chất lượng hơn và áp dụng biện pháp vệ sinh tốt hơn thực sự đã cải thiện cuộc sống của chúng ta - chúng ta đang cao hơn, khỏe mạnh hơn và sạch sẽ hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, nhìn vào tỷ lệ mắc bệnh thực tế trong nhưng năm qua, không còn nghi ngờ gì nữa, vắc xin mới là yếu tố đóng vai trò chính trong hiệu quả làm suy giảm các ca bệnh mà chúng phòng chống.





