Điều trị loạn sản cổ tử cung
1. Các phương pháp điều trị loạn sản cổ tử cung
Loạn sản cổ tử cung có thể được chỉ định điều trị ngay hoặc theo dõi, tùy vào mức độ loạn sản cổ tử cung của bệnh nhân.
Nếu các thay đổi tiền ung thư được nhận thấy trên mẫu mô làm giải phẫu bệnh, thì thuật ngữ tân sinh biểu mô cổ tử cung (cervical intraepithelial neoplasia - CIN) sẽ được áp dụng, và phân độ sẽ dựa vào phạm vi các tế bào loạn sản được nhìn thấy ở mẫu mô biểu mô cổ tử cung:
- CIN 1: Khi loạn sản chỉ xuất hiện ở 1/3 dưới của lớp biểu mô của cổ tử cung; trường hợp này được nhận định là loạn sản mức độ nhẹ.
- CIN 2: Khi loạn sản xuất hiện ở 2/3 dưới của lớp biểu mô của cổ tử cung; trường hợp này được nhận định là loạn sản mức độ trung bình.
- CIN 3: Khi loạn sản chiếm trên 2/3 độ dày của lớp biểu mô của cổ tử cung (thậm chí là toàn bộ lớp biểu mô cổ tử cung); trường hợp này là loạn sản mức độ nặng.
Đối với loạn sản mức độ nhẹ, bệnh nhân thường được bác sĩ chỉ định theo dõi, và thực hiện tái khám, làm xét nghiệm Pap theo hẹn. Loạn sản mức độ nhẹ có thể tự thoái lui và biến mất, trở về hoàn toàn bình thường sau một thời gian mà không cần can thiệp. Tuy nhiên loạn sản mức độ nhẹ cũng có thể tiếp tục diễn tiến tới mức độ nặng hơn, hoặc tồn tại kéo dài (nếu sau 2 năm loạn sản mức độ nhẹ vẫn còn tồn tại thì cần điều trị).
Với loạn sản mức độ trung bình và mức độ nặng sẽ cần can thiệp điều trị càng sớm càng tốt, để tránh nguy cơ tiến triển thành ung thư cổ tử cung.
Các phương pháp điều trị loạn sản cổ tử cung có thể cân nhắc bao gồm:
- Khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện (loop electrosurgical excision procedure - LEEP), hoặc các phương pháp khoét chóp khác.
- Phẫu thuật lạnh (cryosurgery).
- Phẫu thuật bằng laser.
- Phẫu thuật cắt bỏ tử cung.
1.1 Khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện (loop electrosurgical excision procedure - LEEP)
Khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện là kỹ thuật loại bỏ mô cổ tử cung bất thường bằng một vòng mảnh được đốt nóng bằng điện (vòng điện này giữ vai trò như một dao mổ).
Quá trình khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện được thực hiện rất nhanh, chỉ mất vài phút, và trước khi thực hiện kỹ thuật không cần phải chuẩn bị đặc biệt gì. Bệnh nhân sẽ nằm ngửa ở tư thế giống như khi làm xét nghiệm Pap và được giảm đau. Sau khi đặt mỏ vịt, bác sĩ sử dụng máy soi cổ tử cung để nhìn rõ âm đạo, cổ tử cung nhằm dẫn đường cho vòng điện tiến vào loại bỏ mô bệnh ở cổ tử cung.
Sau khi thực hiện khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện, đa số bệnh nhân có thể quay lại các hoạt động bình thường trong vòng từ 1 đến 3 ngày, đồng thời nên tránh quan hệ tình dục, thụt rửa hoặc sử dụng tampon từ 3 tới 4 tuần.
Bệnh nhân có thể cần làm lại khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện nếu như sau lần thực hiện đầu tiên vẫn chưa loại bỏ hết phần mô bệnh (tuy nhiên khả năng xảy ra tình huống này là rất thấp).
Các tác dụng không mong muốn khi thực hiện khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện bao gồm:
- Đau bụng.
- Dịch tiết âm đạo tối màu trong tuần đầu sau khi thực hiện khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện.
- Ra đốm máu hoặc chảy máu âm đạo rất nhẹ trong 3 tuần kể từ khi thực hiện kỹ thuạt.a
- Những tác dụng không mong muốn nặng hơn nhưng ít gặp: chảy máu âm đạo nặng, đau không đáp ứng với thuốc giảm đau, các dấu hiệu nhiễm trùng (đau tăng lên, sốt, ra dịch âm đạo vàng và có mùi khó chịu).
Đa số bệnh nhân không bị vấn đề dài hạn nào sau khi thực hiện khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện, nhưng vẫn có thể xảy ra một số vấn đề như đau bụng kinh nặng, sinh non, hoặc khó thụ thai (do cổ tử cung bị hẹp hoặc bị sẹo).
1.2 Phẫu thuật lạnh (cryosurgery)
Phẫu thuật lạnh, còn gọi là áp lạnh, là kĩ thuật sử dụng nguồn cực lạnh (nitrogen lỏng hoặc carbon dioxide) để đóng băng và phá hủy mô và tế bào bất thường. Nguồn cực lạnh được dẫn qua một ống kim loại. Sau khi hoàn thành quá trình đóng băng, ống kim loại được làm ấm lên và đưa ra ngoài. Khối mô bệnh bị đóng băng sẽ tan chảy và hình thành mô sẹo.
Các tác dụng không mong muốn của phương pháp phẫu thuật lạnh có thể xảy ra là:
- Đau: Đau thường xảy ra sau khi thực hiện phẫu thuật lạnh, sẽ mất đi sau một thời gian ngắn, và thường đáp ứng với thuốc giảm đau.
- Nhiễm khuẩn: Dù không thường xảy ra, nhưng sau khi phẫu thuật lạnh vẫn có thể xuất hiện nhiễm khuẩn, với các biểu hiện như tiết dịch bất thường có mùi khó chịu, sốt hoặc rét run,...
1.3 Phẫu thuật bằng laser
Phẫu thuật bằng laser là một phương pháp phẫu thuật sử dụng chùm ánh sáng (laser) để tạo các đường cắt không chảy máu trong mô. Chùm laser chiếu vào sẽ đốt vị trí mô bị bệnh và làm nó bốc hơi.
Các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra đối với phẫu thuật bằng laser bao gồm:
- Đau: Sau khi thực hiện kỹ thuật, bệnh nhân có thể xuất hiện đau, nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và thường đáp ứng với thuốc giảm đau.
- Chảy máu: Phẫu thuật bằng laser hiếm khi gây chảy máu sau khi thực hiện, bởi nhiệt từ chùm laser đã cầm máu các mạch máu bị tổn thương trong lúc thực hiện phẫu thuật.
- Nhiễm khuẩn: Ít khi xảy ra, bởi ưu điểm của phẫu thuật bằng laser là nhiệt từ chùm laser trong quá trình phẫu thuật có tác dụng tiệt khuẩn tại chỗ, do đó khiến nguy cơ nhiễm khuẩn giảm thấp.
1.4 Phẫu thuật cắt bỏ tử cung
Đối với loạn sản cổ tử cung, phẫu thuật cắt bỏ tử cung ít khi được thực hiện, trừ khi loạn sản không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác.
2. Tiên lượng đối với loạn sản cổ tử cung
Thường nếu được phát hiện và chỉ định điều trị đúng, kịp thời, theo dõi đầy đủ thì tiên lượng đối với loạn sản cổ tử cung rất khả quan. Nếu để loạn sản cổ tử cung kéo dài thì nguy cơ tiến triển thành ung thư cổ tử cung sẽ tăng lên.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Tiêm phòng có khiến bé có nguy cơ cao bị chứng rối loạn tăng động giảm chú ý không?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, việc tiêm phòng có làm bé có nguy cơ cao mắc chứng rối loạn tăng động, giảm chú ý không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1646 lượt xem
Trẻ em nên bị thủy đậu thay vì tiêm vắc xin, điều này có đúng không?
- Thưa bác sĩ, tôi nghe nhiều người nói trẻ em nên bị thủy đậu, thay vì tiêm vắc xin. Điều này có đúng không vậy? Bác sĩ giải đáp giúp tôi với. Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1473 lượt xem
Tiêm nhiều mũi vắc-xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ thống miễn dịch của bé?
- Thưa bác sĩ, việc sử dụng nhiều hơn một mũi vắc -xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ miễn dịch của bé không ạ?
- 1 trả lời
- 1310 lượt xem
Có một số người băn khoăn là Vắc - xin viên gan B có làm tăng nguy cơ mắc bệnh đa xơ cứng không? Hãy tìm hiểu qua bài viết đưới đây để cùng có câu trả lời nhé!
Lợi ích của tiêm phòng vắc xin bại liệt là gì? Lịch tiêm chủng như thế nào? Cần lưu ý những gì trước khi cho bé tiêm phòng vắc xin bại liệt? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây!
Vắc xin DTaP bảo vệ bé chống lại 3 bệnh: bạch hầu, ho gà và uốn ván.
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị bệnh cúm thường có nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2015-2016, cúm có liên quan đến cái chết của hơn 80 trẻ em ở nước Mỹ.
Vắcxin MMR bảo vệ bé phòng chống lại ba loại virut: sởi, quai bị, và rubella.





