Dị ứng trứng gà có tiêm vắc-xin cúm Vaxigrip được hay không?
1. Dị ứng trứng là gì? Triệu chứng của phản ứng dị ứng trứng là gì?
Dị ứng trứng có thể được xác nhận bằng tiền sử y tế nhất quán về các phản ứng bất lợi khi người bệnh có ăn trứng cũng như các thực phẩm có chứa trứng. Ngoài ra, chẩn đoán này còn có giá trị tin tưởng cao hơn khi họ đã được làm xét nghiệm da và/hoặc xét nghiệm máu để tìm kháng thể Immunoglobulin E với protein trứng có kết quả là dương tính.
Trong cộng đồng, tình trạng dị ứng trứng xảy ra ở khoảng 1,3% ở trẻ em và 0,2% ở người lớn. Những người có thể ăn trứng đã qua nấu chín sơ lược như trứng cuộn mà không có phản ứng gì thì ít có khả năng bị dị ứng với trứng. Mặt khác, người đã có tiền căn bị dị ứng trứng lại vẫn có thể dung nạp trứng trong các sản phẩm đã chế biến như bánh mì hoặc bánh ngọt. Như vậy, khả năng chịu đựng thực phẩm chứa trứng hoàn toàn không giúp xác nhận hay loại trừ khả năng dị ứng trứng. Bên cạnh đó, dị ứng trứng có thể biểu hiện với nhiều mức độ khác nhau, từ nhẹ, bên ngoài da như ngứa, phát ban, nặng hơn là phù mạch, khó thở, tim nhanh, hạ huyết áp... đến rất nghiêm trọng như sốc, tụt huyết áp, đôi khi ảnh hưởng đến tính mạng.
2. Vì sao cần lưu ý trên người dị ứng trứng khi tiêm vắc-xin cúm?
Lý do là vì quy trình sản xuất vắc-xin cúm. Đây là cách làm phổ biến nhất, đã được sử dụng hơn 70 năm, khi các loại virus dùng để điều chế vắc-xin đều được chuẩn bị và nuôi cấy trong môi trường trứng.
Quy trình bắt đầu bằng việc chủng siêu vi sẽ được tiêm vào trứng gà thụ tinh, ủ trong vài ngày để cho phép virus nhân lên. Sau đó, chất lỏng trong trứng có chứa virus với nồng độ nhất định sẽ được thu thập. Đối với các mũi tiêm phòng cúm, virus cúm sẽ bị tiêu diệt một phần trong bước kế tiếp nhằm phá vỡ cấu trúc siêu vi để giảm độc lực của chúng.
Như vậy, về mặt cơ bản, quả trứng đóng vai trò như là “một ống nghiệm” cho virus phát triển thay vì nuôi cấy trên đĩa Petri theo cách của vi khuẩn. Chính vì thế, sản phẩm vắc-xin cuối cùng được điều chế đưa ra thị trường sử dụng khó mà có thể loại trừ hoàn toàn các protein đến từ trứng.
3. Người bị dị ứng trứng gà có tiêm vắc-xin cúm được không?
Việc tiêm phòng cúm đem lại rất nhiều lợi ích, làm giảm nguy cơ mắc bệnh và lây truyền cho các thành viên trong gia đình, cộng đồng, khi đã tiêm phòng thì mức độ biểu hiện khu trú hơn, giảm tỷ lệ biến chứng nặng. Chính vì những ưu điểm nêu trên, so với rủi ro có thể xảy ra, những người bị dị ứng trứng gà vẫn được khuyến cáo cần tiêm vắc-xin cúm định kỳ hằng năm nhằm dự phòng dịch cúm mùa. Các đối tượng đặc biệt được hưởng lợi là phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người già trên 65 tuổi, trẻ nhỏ và các bệnh nhân mắc các bệnh lý nội khoa nặng (hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy tim, suy giảm miễn dịch...).
Lý giải cho khuyến nghị này là vì thực sự số lượng protein trứng trong một liều vắc-xin hầu như không đủ để kích hoạt phản ứng nghiêm trọng trong khi lợi ích nhận được nhiều hơn một cách đáng kể.
Mặt khác, trước đây, trên những người có biểu hiện dị ứng sau tiêm vắc-xin, kể cả vắc-xin cúm, các nhà khoa học cho rằng là do phản ứng với hormone từ trứng; tuy nhiên, các nghiên cứu của các nhà dị ứng học gần đây cho thấy rằng dấu vết của protein trứng còn sót lại trong vắc-xin cúm không phải là nguyên nhân của các phản ứng dị ứng này, kể cả trên người có tiền căn bị dị ứng với trứng.
Theo đó, nếu như trước đây, tất cả những người từng bị dị ứng với trứng thường phải theo dõi phản ứng dị ứng trong 30 phút sau khi họ tiêm vắc-xin cúm; khuyến cáo này đã được sửa đổi là chỉ áp dụng với những người có tiền sử phản ứng nặng với trứng.
4. Hướng dẫn tiêm vắc-xin cúm trên người bị dị ứng trứng
Nếu một người có thể ăn trứng đã nấu sơ lược như trứng cuộn mà hoàn toàn không có phản ứng gì, khả năng bị dị ứng với các loại vắc-xin là khó xảy ra và họ có thể sử dụng bất kỳ loại vắc-xin cúm nào phù hợp với tuổi, tình trạng sức khỏe.
Nếu một người có tiền sử dị ứng trứng với biểu hiện nổi mề đay sau khi tiếp xúc với trứng, họ vẫn có thể tiêm bất kỳ loại vắc-xin cúm nào phù hợp với độ tuổi, sức khỏe theo chỉ định của bác sĩ sau khi thăm khám.
Tuy nhiên, nếu một người từng có phản ứng nghiêm trọng lặp đi lặp lại khi vô tình ăn trứng hoặc thực phẩm có chứa trứng, như phù mạch, suy hô hấp, chóng mặt hoặc phải cần đến epinephrine, các can thiệp y tế khẩn cấp khác nói chung, họ vẫn có thể tiêm bất kỳ loại vắc-xin cúm nào nhưng được theo dõi kỹ lưỡng sau tiêm ngừa ít nhất 30 phút, đảm bảo hoàn toàn không có biểu hiện gì khác lạ trước khi ra về. Cơ sở tiêm phòng cũng cần trang bị các phương tiện ứng cứu phản ứng dị ứng, sốc phản vệ.
Như vậy, toàn bộ những người bị dị ứng với trứng có thể tiêm phòng vắc-xin cúm. Trong thực tế, việc phòng ngừa cúm chỉ trở thành chống chỉ định trên các đối tượng trước đây đã trải qua một lần phản ứng dị ứng nghiêm trọng với vắc-xin cúm. Do đó, những người này được khuyến cáo không nên tiêm vắc-xin cúm một lần nữa và hướng dẫn áp dụng các biện pháp đề phòng cúm không chuyên biệt khác.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Có đúng là tiêm phòng cúm bạn sẽ bị bệnh cúm?
- Bác sĩ ơi, có đúng là tiêm phòng cúm chúng ta sẽ bị bệnh cúm không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1104 lượt xem
Trẻ có thể vẫn bị bệnh sau khi đã được tiêm phòng?
-Thưa bác sĩ, trẻ đã tiêm phòng vẫn có thể bị bệnh, phải không ạ?
- 1 trả lời
- 1096 lượt xem
Bé có cần tiêm liều bổ sung nhắc lại không nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã có miễn dịch với bệnh?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, bé nhà tôi có cần phải tiêm liều vắc xin bổ sung nhắc lại không, nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã miễn dịch với bệnh? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1711 lượt xem
Nếu không ai mắc những bệnh này nữa, tại sao trẻ vẫn cần tiêm phòng?
- Tôi có một thắc mắc là nếu không ai mắc bệnh nữa, tại sao vẫn phải cho trẻ tiêm phòng? Bác sĩ giải đáp giúp tôi!
- 1 trả lời
- 1383 lượt xem
Tiêm phòng có khiến bé có nguy cơ cao bị chứng rối loạn tăng động giảm chú ý không?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, việc tiêm phòng có làm bé có nguy cơ cao mắc chứng rối loạn tăng động, giảm chú ý không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1647 lượt xem
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị bệnh cúm thường có nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2015-2016, cúm có liên quan đến cái chết của hơn 80 trẻ em ở nước Mỹ.
Nhiều phụ huynh lo ngại tiêm phòng có khiến trẻ có nguy cơ bị hen suyễn cao hơn không? Cùng tìm ra câu trả lời trong bài viết dưới đây!
Tiêm phòng được thiết kế để bảo vệ chống lại các bệnh nặng, từ bệnh bại liệt và uốn ván đến bệnh sởi, quai bị, và cúm mùa. Nhiều người coi tiêm phòng là phần quan trọng nhất trong việc khám và chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Ở người bị bệnh, Neisseria meningitidis sống ở vùng hầu họng và lây lan qua các giọt nhỏ ở đường thở hoặc chất tiết ở cổ họng. Ho, hắt hơi, hôn và dùng chung chai nước hoặc dụng cụ sẽ dẫn đến lây bệnh.
Vắc xin Hib bảo vệ trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn nặng, phần lớn ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi. Vi khuẩn có thể gây viêm nắp thanh quản (sưng nặng ở cổ họng gây khó thở), một dạng viêm phổi nghiêm trọng và một loại bệnh gọi là viêm màng não do vi khuẩn.





