Các biến chứng thường gặp khi sử dụng dinh dưỡng tĩnh mạch
1. Nuôi ăn tĩnh mạch cho trẻ sơ sinh là gì?
Trẻ sinh non, nhẹ cân không có cơ hội tăng trưởng và phát triển đầy đủ trong tử cung của người mẹ nên có những đặc điểm sinh lý khác với trẻ sinh đủ tháng. Các hệ cơ quan của trẻ sinh non tháng, tiêu biểu là hệ tiêu hóa chưa có hoạt động chức năng hoàn thiện như trẻ đủ tháng. Vì vậy, cần tăng cường dinh dưỡng cho trẻ sinh non để bắt kịp đà tăng trưởng. Các biện pháp gồm dinh dưỡng tĩnh mạch sau sinh và sau chuyển sang nuôi ăn tiêu hóa.
Dinh dưỡng đường tĩnh mạch là việc đưa các chất dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch vào máu để nuôi cơ thể. Các chất dinh dưỡng gồm: Protein, carbohydrate, lipid, nước, muối khoáng và các chất vi lượng. Các dưỡng chất này có thể được cung cấp riêng biệt, pha trộn hoặc truyền cùng lúc.
Chỉ định dinh dưỡng đường tĩnh mạch cho trẻ có những đặc điểm như sau:
- Trẻ có cân nặng < 1.500g;
- Trẻ có cân nặng ≥ 1500g nhưng không thể ăn qua đường tiêu hóa đủ 130ml/kg/ngày sau 3 ngày; dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa (hở thành bụng, thoát vị rốn, teo thực quản, teo ruột non, ruột xoay bất toàn, tắc ruột phân su, thoát vị hoành,...); rối loạn tiêu hóa nặng (bất dung nạp tiêu hóa nặng, nôn ói nhiều, bụng trướng nhiều, tiêu chảy kéo dài); đường tiêu hóa đang bị tổn thương nặng (xuất huyết tiêu hóa nặng, viêm ruột hoại tử); mắc các bệnh lý cần phẫu thuật ngay, bệnh lý toàn thân nặng (co giật chưa ổn định, thở trên 80 lần/phút, cần truyền vận mạch như dopamin, dobutamin, adrenalin > 24 giờ với liều > 5mg/kg/phút).
Hiện nay đang áp dụng 2 phương pháp dinh dưỡng tĩnh mạch gồm: Nuôi qua tĩnh mạch trung tâm và nuôi qua tĩnh mạch ngoại vi. Nuôi qua tĩnh mạch ngoại vi dễ thực hiện, ít biến chứng hơn nhưng phải thay đổi nơi truyền nhiều lần nên thường chỉ áp dụng cho trường hợp nuôi ăn ngắn ngày hoặc chỉ nuôi hỗ trợ. Nuôi qua tĩnh mạch trung tâm thường được chỉ định cho trường hợp cần nuôi dài ngày trên 1 - 2 tuần, có thể cung cấp nhiều năng lượng hơn nhưng kỹ thuật này phức tạp hơn và có nhiều biến chứng hơn.
2. Biến chứng khi sử dụng dinh dưỡng tĩnh mạch
Nuôi ăn tĩnh mạch cho trẻ sơ sinh có nguy hiểm không? Nuôi ăn qua đường tĩnh mạch là kỹ thuật phức tạp - một phương pháp nuôi ăn không sinh lý, tốn kém và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều biến chứng khó lường như:
2.1 Biến chứng liên quan tới dưỡng chất
- Tăng đường huyết: Tăng đường huyết được xác định ở mức đường huyết > 150 mg/dL. Biến chứng này thường gặp trong dinh dưỡng tĩnh mạch ở những trẻ sinh non, nhẹ cân. Tăng đường huyết gây tăng áp lực thẩm thấu máu, lợi tiểu thẩm thấu, mất nước, xuất huyết não và làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh non tháng. Để xử trí, có thể giảm tốc độ đường 2 mg/kg/phút mỗi 4 giờ. Có thể dùng insulin khởi đầu với liều 0.01 IU/kg/giờ nếu glucose máu > 180 mg/dL và glucose niệu 2mg/dL + với tốc độ đường 6 mg/kg/phút để hạ đường huyết xuống dưới mức 180 mg/dL. Biện pháp phòng ngừa tăng đường huyết ở trẻ sinh non nuôi dưỡng tĩnh mạch toàn phần bằng cách cho protid sớm và dinh dưỡng tiêu hóa tối thiểu sớm;
- Hạ đường huyết: Hạ đường huyết được xác định khi nồng độ đường huyết dưới 40 mg/dl (trong 24 giờ đầu sau sinh) hoặc dưới 50 mg/dL (sau 24 giờ). Biến chứng này thường xảy ra khi ngưng dinh dưỡng tĩnh mạch toàn phần ở trẻ sinh non, nhẹ cân. Để xử lý, tiêm mạch chậm glucose 10% 2 - 3 ml/kg khi trẻ hạ đường huyết có triệu chứng lâm sàng (co giật, rung chi, giảm trương lực cơ, mê man, li bì, có cơn ngưng thở, nhịp tim chậm, da tím tái, thở nhanh, bú kém, hạ thân nhiệt) hoặc khi glucose máu xuống dưới 25 mg/dL. Bên cạnh đó, có thể tăng tốc độ glucose truyền lên ≥ 6 mg/kg/phút và có thể tăng tới khả năng oxy hóa glucose tối đa ở trẻ sinh non là 15 mg/kg/phút. Đồng thời, nên kiểm tra đường huyết cho trẻ sau mỗi 4 giờ;
- Toan chuyển hóa: Có thể liên quan tới các nguyên nhân như nhiễm khuẩn, suy thận, mất nước;
- Tăng BUN (tăng nồng độ ure máu): Có thể liên quan tới tăng dị hóa protein nội sinh, tăng nhập protid, xuất huyết tiêu hóa, mất nước, suy thận;
- Thiếu acid béo thiết yếu: Có thể biểu hiện sớm sau 1 tuần không dinh dưỡng lipid ở trẻ sinh non. Biểu hiện gồm viêm da tróc vảy, tóc thưa mảnh, dễ nhiễm khuẩn, giảm tiểu cầu và chậm tăng cân;
- Tăng triglyceride máu;
- Ứ mật: Bilirubin trực tiếp trên 2 mg/dL, thường xảy ra sau trên 2 tuần sử dụng dinh dưỡng tĩnh mạch toàn phần. Cơ chế gây ứ mật chưa rõ, có thể liên quan tới các acid amin. Để phòng ngừa, nên ngưng dinh dưỡng tĩnh mạch toàn phần sớm. Điều trị hỗ trợ ứ mật bằng các dinh dưỡng tiêu hóa tối thiểu sớm, che ánh sáng dung dịch nuôi ăn, giảm acid amin cho từng đợt;
- Bệnh xương do chuyển hóa (Osteopenia): Do chế độ dinh dưỡng có hàm lượng thấp canxi, photpho, nuôi ăn tĩnh mạch kéo dài, dùng lợi tiểu kéo dài, dùng steroid kéo dài. Bệnh thường biểu hiện rõ rệt sau 6 tuần sau sinh. Để xử trí, cần cho trẻ tiếp nhận dinh dưỡng tiêu hóa tối thiểu sớm, dinh dưỡng tiêu hóa đầy đủ sớm với sữa mẹ tăng cường hoặc sữa công thức cho trẻ non tháng có hàm lượng canxi, photpho cao, cung cấp đầy đủ vitamin D với liều 800 IU/ngày.;
- Thiếu vi chất: Vi chất kẽm và selen được khuyến nghị cung cấp vào từ ngày đầu khi thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch. Các vi chất khác được xem xét cung cấp cho trẻ sau 2 tuần. Các triệu chứng lâm sàng và hậu quả của thiếu vi chất tùy thuộc vào loại vi chất thiếu hụt.
Các biến chứng khi sử dụng dinh dưỡng tĩnh mạch liên quan tới dưỡng chất đều có thể tránh được bằng cách theo dõi và điều chỉnh hợp lý việc cung cấp dinh dưỡng cho trẻ.
2.2 Biến chứng liên quan tới catheter dinh dưỡng
Các biến chứng gồm nhiễm khuẩn, nghẽn, thoát mạch, huyết khối hoặc thuyên tắc phổi.
Bên cạnh đó, do không có các chất dinh dưỡng kích thích như nuôi qua đường tiêu hóa nên dinh dưỡng tĩnh mạch dễ dẫn đến teo các nhung mao đường ruột, tăng khả năng xâm nhập của vi khuẩn vào tế bào thành ruột và dễ bị thiếu glutamine,...
Nuôi ăn tĩnh mạch cho trẻ sơ sinh có thể gây ra một số biến chứng nhưng vẫn được chỉ định trong những trường hợp đặc biệt không thể nuôi qua đường tiêu hóa như tắc ruột, nôn mửa liên tục, xuất huyết tiêu hóa ồ ạt, viêm tụy cấp giai đoạn đầu,... Dù vậy, không nên duy trì dinh dưỡng tĩnh mạch kéo dài mà nên chuyển dần sang kết hợp nuôi dưỡng tiêu hóa để cải thiện chức năng và sự toàn vẹn của niêm mạc ruột.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Trẻ 2 tháng 5 ngày cổ gập ngửa ra sau thì có bị tổn thương không?
Hiện bé nhà em đang được 2 tháng 5 ngày. Hôm trước khi thấy em khóc thì anh trai bé có vội sốc vai bé lên làm cổ bị gập ngửa ra sau. Trộm vía sau đó bé vẫn chơi và bú bình thường. Không biết bé như vậy có bị tổn thương cổ không ạ?
- 1 trả lời
- 2575 lượt xem
Có nên cho bé vào bồn tắm hoặc lau người bằng bọt biển để hạ sốt không?
Tôi nghe mọi người mách là lau người bằng bọt biển hoặc cho bé vào bồn tắm là có thể hạ sốt cho bé. Tôi có nên làm như vậy không? Mong bác sĩ cho tôi lời khuyên ạ!
- 1 trả lời
- 1501 lượt xem
Trẻ 1 tháng tuổi ngủ không sâu giấc và hay thở gấp là bị làm sao?
Em sinh bé mới được 1 tháng tuổi ạ. Không hiểu bé nhà em bị làm sao mà bé chỉ bú một lúc là nhả ra, rồi bé gồng cổ lên, mắt nhìn về 1 bên, sau đó khoảng 1 phút thì mới quay lại bú tiếp. Bé ngủ không sâu giấc, hay giật mình rồi uốn mình liên tục. Bé còn hay thở gấp và nghe thấy khò khè trong cổ họng nữa ạ. Bé nhà em như vậy là bị làm sao ạ?
- 1 trả lời
- 1163 lượt xem
Trẻ 4 ngày tuổi thở gấp thì có gì bất ổn không?
Em sinh bé lúc thai được 36 tuần 3 ngày. Lúc sinh bé nặng 2,7kg. Hiện tại bé đã được 4 ngày tuổi rồi, nhưng không hiểu sao bé nhà em có tình trạng thở gấp và hay giật mình ạ. Em đếm nhịp bụng nhô lên của bé thì có đến 75 nhịp/phút. Bé thở gấp như vậy thì có bất ổn không ạ? Bé vẫn bú và ngủ bình thường, thậm chí ngủ rất nhiều, gọi cũng không dậy ạ.
- 1 trả lời
- 643 lượt xem
Các sản phẩm từ sữa có làm tăng tình trạng nghẹt mũi không?
Bé nhà tôi bị nghẹt mũi. Không hiểu các sản phẩm từ sữa có làm tăng tình trạng nghẹt mũi của bé không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 1295 lượt xem
Bác sĩ nói rằng con gái tôi bị dính môi bé. Đó là gì?
Hãy đưa bé thẳng đến phòng khám bác sĩ nếu bạn không thể lấy vật trong mắt bé ra hoặc nếu đã lấy nhưng bé dường như đang rất đau. Đau có thể là dấu hiệu cho thấy mắt bị tổn thương.
Mặc dù viêm da cơ địa gây khó chịu và thường khó điều trị nhưng có nhiều cách để kiểm soát các triệu chứng bệnh ở trẻ nhỏ.
Christine Duenas đã mất đứa con của mình khi cô mang thai được 39 tuần và 3 ngày. Cô ấy đã lâm bồn, nhưng sau đó đã có sự cố khủng khiếp xảy ra. Trước khi chào đời, con bé đã chết.





