Tin tức Bệnh Tim Mạch
Sốt thấp khớp là biến chứng của nhiễm trùng do vi khuẩn xảy ra do phản ứng miễn dịch bất thường. Bệnh thấp tim là biến chứng của sốt thấp khớp, có đặc trưng là tổn thương van tim.
Khi nhắc đến tác hại của mất ngủ, chắc hẳn bạn sẽ nghĩ ngay đến tình trạng buồn ngủ và uể oải vào ban ngày. Đó là những tác hại xảy ra đầu tiên và có thể nhìn thấy rõ nhất nhưng mất ngủ không chỉ gây ra những vấn đề như vậy. Theo thời gian, tình trạng mất ngủ kéo dài còn gây ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng trong cơ thể, bao gồm cả tim và mạch máu. Mất ngủ có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về tim mạch.
Tăng huyết áp không được coi là một loại bệnh tim mạch nhưng có thể dẫn đến bệnh tim mạch.
Cholesterol máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ. Một trong những điều đầu tiên cần làm gì khi bị cholesterol cao là điều chỉnh chế độ ăn uống. Tăng chất xơ hòa tan và giảm chất béo bão hòa có thể giúp giảm mức cholesterol.
Hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) là một nhóm gồm 5 yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch, tiểu đường và đột quỵ.
Có rất nhiều loại thuốc có tác dụng điều trị tình trạng cholesterol cao, chẳng hạn như statin hay thuốc ức chế PCSK9. Bên cạnh đó cũng có những loại thực phẩm chức năng giúp làm giảm cholesterol trong máu, ví dụ như chiết xuất tỏi và men gạo đỏ.
Gan sản xuất cholesterol và sử dụng cholesterol để tạo ra dịch mật. Cơ thể cũng hấp thụ cholesterol từ thực phẩm có nguồn gốc động vật. Có hai loại cholesterol chính trong cơ thể là LDL và HDL.
Có nhiều cách để giảm mỡ thừa vùng bụng, gồm có điều chỉnh chế độ ăn uống, ngủ đủ giấc và tăng cường vận động.
Rối loạn lipid máu có nghĩa là nồng độ chất béo, chẳng hạn như cholesterol và triglyceride, trong máu cao hơn mức bình thường. Nếu không được điều trị, tình trạng này có thể dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng.
Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi được xác định chính xác nhất khi ngồi hoặc nằm và ở trạng thái bình tĩnh. Nhịp tim khi nghỉ ngơi trung bình dao động trong khoảng 60 đến 80 nhịp mỗi phút. Vận động viên các môn thể thao sức bền thường có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn so với người bình thường. Một số vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi chỉ 30 đến 40 nhịp mỗi phút.
Tim đập nhanh khi ngủ dậy có thể là do nhiều nguyên nhân gây ra như lo lắng, ngủ không đủ giấc và rối loạn nhịp tim.
Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi (resting heart rate) là số lần tim đập mỗi phút khi không hoạt động thể chất và không bị căng thẳng. Nhịp tim khi nghỉ ngơi là một chỉ số quan trọng phản ánh sức khỏe của tim.
Nhịp tim mục tiêu (target heart rate) là nhịp tim mà bạn nên cố gắng đạt được khi tập thể dục để có hiệu quả cao nhất. Nhịp tim mục tiêu khi chạy bộ tùy thuộc vào độ tuổi và mức độ thể lực. Các yếu tố khác như nhiệt độ môi trường, độ ẩm không khí và cường độ tập cũng có ảnh hưởng đến nhịp tim.
Có nhiều cách để điều trị cholesterol cao, gồm có điều chỉnh chế độ ăn uống, tập thể dục và dùng thuốc.
Hiện không có khuyến nghị cụ thể về lượng cholesterol nên tiêu thụ mỗi ngày. Tuy nhiên, vẫn phải lựa chọn thực phẩm lành mạnh để duy trì nồng độ cholesterol trong máu ở mức khỏe mạnh.
Đôi khi, chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn uống, tập thể dục và những thay đổi lối sống khác là đủ để điều trị cholesterol máu cao. Tuy nhiên, nếu tình trạng không cải thiện thì sẽ phải dùng thuốc.
Tăng lipid máu (hyperlipidemia) là thuật ngữ chỉ tình trạng mất cân bằng giữa LDL cholesterol (cholesterol xấu), HDL cholesterol (cholesterol tốt) và triglyceride. Đây là những loại chất béo (lipid) có trong máu và đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe tế bào cũng như quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên, nồng độ LDL cholesterol và triglyceride quá cao trong khi nồng độ HDL cholesterol quá thấp sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các vấn đề tim mạch khác.
Mặc dù không phổ biến bằng cholesterol cao nhưng cholesterol thấp cũng có thể gây hại. Cholesterol thấp có thể gây ra hoặc làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lý, chẳng hạn như ung thư, trầm cảm và rối loạn lo âu.
Cholesterol trong máu cao là một vấn đề rất phổ biến. Đây là yếu tố nguy cơ chính gây đột quỵ và bệnh tim mạch. Cholesterol cao được xác định dựa trên chỉ số cholesterol toàn phần, lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL).
Mỡ bụng có thể hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như lối sống ít vận động, chế độ ăn uống, mất cân bằng nội tiết tố và di truyền.
Các tác dụng phụ thường gặp của atorvastain là đau nhức cơ, tiêu chảy, các triệu chứng giống cảm lạnh (sổ mũi và hắt hơi), ợ nóng và đầy hơi.
Cholesterol cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Mặc dù điều chỉnh chế độ ăn uống và tập thể dục có thể giúp làm giảm cholesterol nhưng đôi khi cần dùng thuốc.
Statin là một nhóm thuốc điều trị cholesterol cao. Những loại thuốc này làm giảm nồng độ cholesterol trong máu bằng cách ức chế một loại enzyme tham gia vào quá trình sản xuất cholesterol.
Một số loại thực phẩm có thể giúp giảm cholesterol trong máu, chẳng hạn như các loại đậu, hạt, quả bơ và cá béo.
Thay thế chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa bằng chất béo tốt và ăn nhiều trái cây, rau củ là cách hiệu quả để kiểm soát mức cholesterol và bảo vệ sức khỏe tim mạch.
Statin là nhóm thuốc được dùng để điều trị tình trạng cholesterol máu cao. Các loại thuốc này làm giảm mức cholesterol bằng cách ngăn cản sự sản xuất cholesterol hoặc tăng sự tái hấp thu cholesterol trong máu.
Mức cholesterol toàn phần được khuyến nghị đối với người lớn là dưới 200 mg/dL và đối với trẻ em là dưới 170 mg/dL. Phụ nữ thường cần nhiều HDL cholesterol (cholesterol tốt) hơn so với nam giới.
Cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL cholesterol) được gọi là “cholesterol tốt” vì HDL giúp loại bỏ cholesterol lipoprotein mật độ thấp (LDL) hay cholesterol xấu ra khỏi máu. Ở hầu hết mọi người, nồng độ HDL trong máu càng cao thì càng tốt nhưng nghiên cứu cho thấy mức HDL cao có thể gây hại ở một số người.
Cholesterol được tạo ra tự nhiên trong cơ thể và cũng có trong một số loại thực phẩm. Nồng độ cholesterol trong máu của mỗi người là khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, di truyền, chế độ ăn uống và mức độ vận động.
Cholesterol ở mức giới hạn cao (borderline) có là cholesterol toàn phần cao hơn mức bình thường (trên 200 mg/dL) nhưng chưa đến mức cao (từ 240mg/dL trở lên).




