Sự khác biệt giữa bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Sự khác biệt giữa bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Sốt thấp khớp là biến chứng của viêm họng do liên cầu khuẩn, một bệnh do nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A. Nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A có thể gây ra:
- Viêm họng do liên cầu khuẩn
- Sốt tinh hồng nhiệt
- Chốc lở
Bệnh thấp tim là tình trạng tổn thương van tim do sốt thấp khớp. Tổn thương van tim có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về tim mà có thể phải sau vài chục năm mới biểu hiện rõ.
Đọc tiếp để tìm hiểu thêm về sự khác biệt giữa sốt thấp khớp và bệnh thấp tim.
Triệu chứng bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Sau đây là những điểm khác nhau giữa triệu chứng của bệnh thấp tim và sốt thấp khớp.
Triệu chứng sốt thấp khớp
Các triệu chứng sốt thấp khớp thường xuất hiện sau khi bị viêm họng do liên cầu khuẩn 1 – 5 tuần, gồm có:
- Sốt cao
- Đau và sưng khớp, thường gặp nhất ở:
- Đầu gối
- Khuỷu tay
- Cổ tay
- Mệt mỏi
- Nhiều tháng sau, xảy ra tình trạng chuyển động giật cục và không kiểm soát (chứng múa giật) ở:
- Bàn tay
- Bàn chân
- Mặt
- Tiếng thổi tim
- Nổi cục không đau dưới da hình thành trên xương hoặc gân
- Phát ban, nổi những vòng tròn màu hồng với phần chính giữa màu da lan ra bên ngoài
Triệu chứng của bệnh thấp tim
Khoảng 50 – 70% số người bị sốt thấp khớp bị viêm tim. Viêm tim có thể dẫn đến tình trạng viêm và tổn thương các van tim – bộ phận có chức năng dẫn máu qua các buồng tim và mạch máu.
Bệnh thấp tim có thể gây ra các triệu chứng như:
- Đau ngực
- Hụt hơi
- Bụng phình to và sưng phù ở tay hoặc chân
- Mệt mỏi
- Nhịp tim nhanh hoặc không đều
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây sốt thấp khớp
Sốt thấp khớp là biến chứng của nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh nhiễm trùng này có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch bất thường dẫn đến tình trạng viêm khắp cơ thể và gây tổn thương các mô khỏe mạnh.
Loại nhiễm trùng liên cầu khuẩn phổ biến nhất dẫn đến sốt thấp khớp là viêm họng do liên cầu khuẩn. Bệnh này phổ biến nhất ở trẻ em trong độ tuổi từ 5 – 15.
Sốt thấp khớp và bệnh thấp tim là nguyên nhân chính gây tử vong sớm ở các nước đang phát triển và ít phổ biến hơn ở các nước phát triển. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ bị sốt thấp khớp mỗi năm là khoảng 1 trên 10.000 người trong khi đó, tỷ lệ này tại Ấn Độ là khoảng 1 trên 1.960.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ sốt thấp khớp gồm có:
- Sống trong gia đình đông người
- Nằm chung giường với người khác
- Điều kiện nhà ở không đảm bảo vệ sinh
- Nghèo khó
- Khả năng tiếp cận y tế kém
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh thấp tim
Bệnh thấp tim là biến chứng của bệnh sốt thấp khớp xảy ra khi phản ứng miễn dịch kích hoạt làm tổn thương van tim. Tổn thương tim thường xảy ra sau khi nhiễm trùng khoảng 3 tuần.
Bệnh thấp tim có thể xảy ra sau một lần hoặc nhiều lần sốt thấp khớp.
Khi nào cần đi khám?
Điều quan trọng là phải đi khám bác sĩ ngay khi nghi ngờ mình bị viêm họng do liên cầu khuẩn vì thuốc kháng sinh là phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Nếu không dùng thuốc kháng sinh, viêm họng do liên cầu khuẩn có thể dẫn đến sốt thấp khớp.
Các triệu chứng của bệnh viêm họng do liên cầu khuẩn gồm có:
- Sốt
- Đau khi nuốt
- Amidan sưng đỏ
- Các mảng trắng hoặc mủ trên amidan
- Sưng hạch bạch huyết ở cổ
Chẩn đoán bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Không có bất kỳ xét nghiệm đơn lẻ nào có thể chẩn đoán bệnh thấp tim hoặc sốt thấp khớp. Bác sĩ thường phải sử dụng kết hợp các công cụ chẩn đoán sau đây:
- Lấy mẫu dịch họng để tìm dấu hiệu nhiễm trùng liên cầu khuẩn nhóm A
- Xét nghiệm máu để tìm kháng sinh chỉ ra nhiễm trùng liên cầu khuẩn gần đây và để đánh giá tình trạng viêm trong cơ thể
- Điện tâm đồ
- Siêu âm tim
Điều trị bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Điều trị sốt thấp khớp
Các phương pháp điều trị sốt thấp khớp:
- Thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn
- Thuốc hạ sốt
- Thuốc giảm viêm hoặc đau
Nếu bị sốt thấp khớp, người bệnh có thể sẽ phải tiêm penicillin cách 3 – 4 tuần một lần để ngăn các đợt tái phát gây tổn thương thêm cho tim hoặc khớp.
Điều trị bệnh thấp tim
Bệnh thấp tim không có cách chữa trị khỏi hoàn toàn. Bệnh có thể gây suy tim và cần dùng thuốc để điều trị, chẳng hạn như:
- Thuốc ức chế men chuyển angiotensin
- Thuốc lợi tiểu
- Thuốc chẹn beta
- Thuốc ức chế protein vận chuyển natri-glucose 2
- Thuốc đối kháng thụ thể mineralcorticoid
Nếu van tim bị hỏng nghiêm trọng, người bệnh có thể sẽ phải phẫu thuật thay hoặc sửa van tim.
Ngăn ngừa bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh thấp tim và sốt thấp khớp là phòng ngừa viêm họng do liên cầu khuẩn hoặc điều trị kịp thời khi mắc bệnh.
Các biện pháp phòng ngừa gồm có:
- Điều trị viêm họng do liên cầu khuẩn bằng thuốc kháng sinh
- Dùng thuốc kháng sinh phòng ngừa nếu bị sốt thấp khớp tái đi tái lại
- Rửa tay thường xuyên và rửa tay trước khi chạm vào miệng, mũi hoặc mắt
- Dùng nước rửa tay khô khi không thể rửa tay với nước
- Không dùng chung đồ và tránh tiếp xúc với nước bọt của những người bị viêm họng do liên cầu khuẩn
Một số câu hỏi về bệnh thấp tim và sốt thấp khớp
Sau bao lâu thì sốt thấp khớp ảnh hưởng đến tim?
Sốt thấp khớp thường xảy ra sau khi bị viêm họng do liên cầu khuẩn khoảng 3 tuần. Có thể phải sau nhiều năm thì các triệu chứng tổn thương van tim do sốt thấp khớp mới xuất hiện.
Người mắc bệnh thấp tim có thể sống thêm bao lâu?
Có thể phải sau 20 – 30 năm thì các triệu chứng của bệnh thấp tim mới xuất hiện. Một số người không bao giờ gặp biến chứng, mặc dù đây là nguyên nhân chính gây tử vong do tim mạch ở người trẻ tuổi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có dịch vụ y tế kém. Căn bệnh này là nguyên nhân của khoảng 200.000 – 250.000 ca tử vong sớm mỗi năm.
Tóm tắt bài viết
Cách tốt nhất để ngăn ngừa cả sốt thấp khớp và bệnh thấp tim là điều trị viêm họng do liên cầu khuẩn kịp thời bằng thuốc kháng sinh và thực hiện các biện pháp phòng tránh viêm họng do liên cầu khuẩn, chẳng hạn như rửa tay thường xuyên.
Cả triglyceride và cholesterol đều cần thiết cho cơ thể, nhưng nếu ở mức quá cao, hai loại chất béo này có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.
Trong máu, cholesterol được vận chuyển nhờ các lipoprotein, gồm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL). HDL giúp vận chuyển cholesterol về gan để loại bỏ ra khỏi cơ thể còn LDL lại đưa cholesterol tới các động mạch. Vì vậy, tốt nhất là nên duy trì mức HDL cao và LDL thấp.
Cơ thể chúng ta cần cholesterol cho nhiều chức năng quan trọng, gồm có sản xuất hormone, vitamin D và hỗ trợ tiêu hóa. Gan có thể tạo ra đủ lượng cholesterol cần thiết để đáp ứng những chức năng này. Tuy nhiên, cơ thể còn hấp thụ cholesterol từ thực phẩm, đặc biệt là thịt và các sản phẩm từ sữa. Nếu bạn ăn nhiều những thực phẩm này và có các yếu tố nguy cơ, nồng độ cholesterol trong máu có thể tăng lên theo thời gian.
Mô cơ tim chỉ có ở tim, chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động co bóp mà không bị kiểm soát bởi ý thức của não bộ. Cơ tim co bóp phối hợp và nhịp nhàng, đảm bảo tim có thể bơm máu đi khắp hệ tuần hoàn trong cơ thể một cách hiệu quả.
Hai tình trạng này đều ảnh hưởng đến khả năng bơm máu của tim. Bệnh cơ tim có thể dẫn đến suy tim.








