Tổn thương thận cấp - Bộ y tế 2015
1.ĐẠI CƯƠNG
Tổn thương thận cấp tính (Acute kidney injury-AKI) khá thường gặp trong lâm sàng. Tùy thuộc vào định nghĩa được sử dụng và quần thể được tiến hành nghiên cứu mà tỷ lệ mắc trong những người bệnh bị bệnh nặng nhập viện là khoảng 1-25%. Có trên 35 định nghĩa về tổn thương thận cấp và nếu không có định nghĩa đồng thuận thì sẽ gây trở ngại cho sự tiến bộ của những nghiên cứu lâm sàng cũng như nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực này. Vì vậy định nghĩa chuẩn hóa được đồng thuận trong thời gian gần đây là căn cứ vào tiêu chuẩn RIFLE, tiêu chuẩn này dựa trên sự phân loại mức độ tăng nặng của yếu tố nguy cơ, tổn thương và suy thận cùng với hai hậu quả là suy giảm một phần chức năng thận và bệnh thận giai đoạn cuối (the increasing severity Risk, Injury, and Failure, and the two outcome classes Loss and End Stage Kidney Disease- RIFLE) .
2.NGUYÊN NHÂN
- Tổn thương thận cấp và sự phục hồi của thận sau tổn thương có cơ chế rất phức tạp và mỗi nhóm nguyên nhân có những đặc trưng riêng biệt. Một số yếu tố trọng tâm gây rối loạn chức năng thận cấp là do sự thiếu máu thận cục bộ và sự sản sinh của các chất độc với thận do hậu quả của sự co mạch, tổn thương nội mô và kích hoạt quá trình viêm. Tính nhạy cảm xuất phát từ mối liên quan của cấu trúc mạch máu và ống thận trong tủy thận dẫn đến tăng cường tính nhạy cảm để khắc phục lưu lượng máu đến thận. Thêm vào đó, vì ống thận cũng tập trung nhiều chất được tái hấp thu từ ống lumen, nồng độ của các chất này có thể đạt ngưỡng độc tính với tế bào biểu mô xung quanh. Chính sự tổn thương thận cấp thường xuyên có thể tích tụ tổn thương dẫn đến tiến triển thành bệnh thận mạn giai đoạn cuối.
- Tương tác giữa tổn thương cấp và mạn tính trong bệnh thận cũng góp phần bởi cơ chế tự hồi phục mạnh mẽ của thận nhưng thường khả năng này không không giống nhau ở tất cả các người bệnh. Đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ hơn về cách tạo điều kiện phục hồi cho tổn thương thận cấp được tiến hành nhằm tìm ra được làm cách nào để giúp cho thận thực hiện quá trình phục hồi tổn thương có hiệu quả nhất. Thực hiện điều này chính là nền tảng đã dẫn đến rất nhiều hứng thú trong lĩnh vực sinh học tế bào gốc liên quan đến việc giúp cho hồi phục những tổn thương thận cấp và mạn tính cho người bệnh[2].
3.CHẨN ĐOÁN
a)Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
* Triệu chứng lâm sàng:
-Triệu chứng lâm sàng cơ bản của tổn thương thận cấp là sự giảm số lượng nước tiểu do suy giảm mức lọc cầu thận.
-Ngoài ra người bệnh có các triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào các nguyên nhân gây suy thận cấp do đó đòi hỏi phải khai thác tiền sử và khám lâm sàng để có chẩn đoán nguyên nhân gây ra tình trạng tổn thương thận cấp. Ví dụ:
- Nhiễm khuẩn huyết: Người bệnh có thể đã tiến hành các thủ thuật xâm lấn trước đó, có dấu hiệu của các nhiễm trùng cục bộ là đường vào của nhiễm khuẩn huyết. Biểu hiện sốt cao rét run...
- Giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng: Biểu hiện bệnh tiêu hóa như xuất huyết, thận, tổn thương da như bỏng, sau phẫu thuật trong thời gian gần đây, nhiễm trùng huyết, sau chấn thương...
- Tắc nghẽn đường niệu gây ứ nước bể thận niệu quản: Người bệnh có thể có tiền sử bệnh tiết niệu, sinh dục hoặc ung thư vùng chậu
- Ngộ độc thuốc hoặc các chất khác:
- Suy tim, suy gan, ung thư, bệnh mạch máu...
* Triệu chứng cận lâm sàng:
- Xét nghiệm nước tiểu: nên được làm thường qui ở tất cả các người bệnh tổn thương thận cấp.
- Xét nghiệm huyết học như công thức máu, tỷ lệ Prothrombin, IRN... rất cần thiết trong tình trạng đánh giá tổn thương thận cấp có liên quan đến thiếu máu do xuất huyết hay tan huyết, các trường hợp xuất huyết do giảm tiểu cầu, huyết khối, viêm tắc mạch...
- Xét nghiệm điện giải đồ trong đó đặc biệt chú ý tình trạng tăng Kali máu để có chỉ định điều trị kịp thời.
- Xét nghiệm các chỉ số amylase, b2-microglobulin... là những chỉ số theo dõi cho sự bài tiết nước tiểu của protein trọng lượng phân tử nhỏ mà có thể dễ dàng lọc bởi cầu thận và tái hấp thu của ống bình thường. Tăng bài tiết nước tiểu của các protein này có thể phản ánh tình trạng rối loạn chức năng ống thận và có thể là một dấu hiệu của tổn thương thận cấp .
- Xét nghiệm hỗ trợ tiếp theo cho chẩn đoán tổn thương thận cấp được sử dụng rộng rãi là đo nồng độ natri hoặc sự bài tiết của natri trong nước tiểu.
- Xét nghiệm ure, creatinin... có biểu hiện triệu chứng suy giảm chức năng thận tùy theo giai đoạn bệnh.
b)Chẩn đoán xác định
- Chẩn đoán theo mức độ tăng nặng: nguy cơ, tổn thương và suy chức năng dẫn đến hai hậu quả là mất chức năng thận và bệnh thận giai đoạn cuối; tiêu chuẩn RIFLE (the increasing severity classes Risk, Injury, and Failure, and the two outcome classes Loss and End Stage Kidney Disease-RIFLE). ( (Xin xem biểu đồ chẩn đoán theo tiêu chuẩn RIFLE trình bày ở dưới).
- Các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ định tùy theo nguyên nhân gây tổn thương thận cấp và giai đoạn bệnh.
Biểu đồ chẩn đoán theo tiêu chuẩn RIFLE:

4.ĐIỀU TRỊ
a) Đảm bảo thể tích tuần hoàn
Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm để theo dõi việc đảm bảo đủ thể tích tuần hoàn. Sự thiếu hoặc thừa thể tích đều không có lợi cho thận. Xác định lượng cụ thể số lượng dịch cần bù và theo nguyên tắc bù những lượng dịch nhỏ của nhiều loại dịch khác nhau, không dùng duy nhất một loại dịch. Sử dụng lợi tiểu chỉ nên bắt đầu khi đã bù đủ thể tích tuần hoàn .
b) Điều trị rối loạn điện giải
- Rối loạn điện giải rất thường xuyên gặp và quan trọng nhất của sự mất cân bằng bao gồm rối loạn natri, kali, canxi và phốt pho.
- Hạ natri máu và tăng kali máu là phổ biến nhất và những rối loạn này luôn cần được chẩn đoán nhanh chóng và điều chỉnh về mức an toàn cho người bệnh trước khi chẩn đoán xác định được các bệnh cơ bản.
- Sự nhấn mạnh về điều chỉnh điện giải là do những rối loạn ở người bệnh với hạ natri máu có nguy cơ cao gây phù não, và tăng kali máu có thể dẫn đến đe dọa tính mạng người bệnh do ảnh hưởng của rối loạn nhịp tim. Việc chẩn đoán nhanh chóng và xử trí hiệu quả những rối loạn này sẽ hạn chế nguy cơ đe dọa tính mạng người bệnh .
c) Sử dụng thuốc lợi tiểu
Thuốc lợi tiểu chỉ nên bắt đầu khi đã bù đủ thể tích tuần hoàn. Tổng quan phân tích gộp sáu nghiên cứu được sử dụng furosemide để điều trị tổn thương thận cấp với liều lượng khác nhau từ 600-3400mg/ngày không giảm đáng kể là về tử vong trong bệnh viện. Nghiên cứu nghiên cứu đơn lớn nhất về sử dụng furosemide trong điều trị tổn thương thận cấp được thực hiện bởi Cantarovich và cộng sự, người bệnh đã được chỉ định lọc máu được dùng ngẫu nhiên một trong 2 phác đồ sử dụng furosemide (25 mg/kg/ngày tiêm tĩnh mạch hoặc 35 mg/kg/ngày đường uống) hoặc giả dược. Mặc dù thời gian để đạt 2 lít/ngày của lợi tiểu furosemide ngắn hơn (5,7 ngày) so với giả dược (7,8 ngày) với p= 0,004. Tuy nhiên không có sự khác biệt cho thấy furosemide có thể giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh tổn thương thận cấp .
d) Điều trị bệnh chính gây tình trạng tổn thương thận cấp
e) Chỉ định điều trị thay thế thận
Chỉ định điều trị thay thế khi trong những trường hợp rối loạn điện giải nặng, toan hóa và suy giảm chức năng thận nặng. Nên sử dụng màng lọc sinh học tương thích cho lọc máu liên tục hoặc ngắt quãng (Intermittent hemodialysis-IHD và Continuous renal replacement therapy-CRRT) .
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh về mắt - Bộ y tế 2015
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành bỏng - Bộ y tế 2013
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành bỏng - Bộ y tế 2013
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật ngoại khoa chuyên khoa phẫu thuật tiết niệu - Bộ y tế 2017
Tổn thương thận là một biến chứng phổ biến của bệnh đái tháo đường nhưng đây là một tình trạng có thể phòng ngừa được. Kể cả khi thận đã bị tổn thương thì vẫn có những cách để làm chậm tốc độ tiến triển của bệnh. Kiểm soát tốt lượng đường trong máu và dùng một số loại thuốc có thể giúp giảm nguy cơ tổn thương thận khi mắc bệnh đái tháo đường.
Có khoảng 80% các trường hợp tổn thương răng miệng xảy ra ở răng cửa và có thể tác động đến cả phần mô mềm – lưỡi, môi và bên trong má.
Tổn thương tế bào biểu mô vảy mức độ thấp không có bất kỳ triệu chứng nào nên phụ nữ sẽ chỉ biết mình có tế bào bất thường trên cổ tử cung khi làm xét nghiệm Pap. Vì lý do này nên việc tầm soát định kỳ là rất quan trọng để chẩn đoán và điều trị sớm.
Điều trị đau tim kịp thời và hiệu quả có thể giúp hạn chế được các biến chứng ảnh hưởng đến chức năng não như trí nhớ, khả năng tập trung và đưa ra quyết định. Các bác sĩ khuyến nghị thực hiện các thói quen có lợi cho sức khỏe tim mạch như tập thể dục đều đặn, ăn uống cân bằng và tránh hút thuốc cũng giúp cải thiện chức năng não.
Suy thận có nghĩa là chức năng thận bị suy giảm. Suy thận cấp là tình trạng chức năng thận bị giảm đột ngột và tạm thời. Suy thận mạn có nghĩa là chức năng thận giảm từ từ và không thể phục hồi.
- 1 trả lời
- 1172 lượt xem
Khi bé bị sốt quá cao có gây tổn thương lên não không ạ? Và sốt cao bao nhiêu độ thì sẽ ảnh hưởng đến não?
- 1 trả lời
- 2367 lượt xem
Hiện bé nhà em đang được 2 tháng 5 ngày. Hôm trước khi thấy em khóc thì anh trai bé có vội sốc vai bé lên làm cổ bị gập ngửa ra sau. Trộm vía sau đó bé vẫn chơi và bú bình thường. Không biết bé như vậy có bị tổn thương cổ không ạ?
- 1 trả lời
- 588 lượt xem
Thấy chậm kinh, ra huyết nhạt, em đến siêu âm và làm xét nghiệm tại Khoa Phụ sản, Bv Trung ương Huế thì bs kết luận: vòng tránh thai bị lệch, nằm dưới cổ tử cung - em đã có thai 4 tuần. Bs cho hỏi, em muốn lấy vòng tránh thai ra có được không ạ. Bởì muồn giữ thai mà em sợ vòng còn trong đó sẽ bất lợi nhiều cho bé?
- 1 trả lời
- 1868 lượt xem
Bé nhà em hiện đang 7 tháng 15 ngày, nặng 7kg, dài 70cm thì có phát triển bình thường không bác sĩ? Vì em thấy bé 7 tháng rồi mà cổ không được cứng cáp như các bé khác. Mẹ bế bồng đứng thì bé cứ bị ngã cổ về sau, chân tay nhỏ, ẵm cắp nách thì bé dịu quặt. Bé có đi khám tại bệnh viện Nhi Đồng, bác sĩ kết luận bé bị thiếu canxi và cho sữa dinh dưỡng và thuốc bổ sung. Bé uống sữa lại hay ọc sữa nên em phải chia nhỏ các cữ bú, mỗi lần 100ml, sau 1h cho bú lại thì bé ổn hơn. Tuy nhiên hiện tại bé vẫn nhỏ xíu và không tăng cân, ai gặp cũng quở. Em phải làm gì đây ạ? Hàng ngày bé vẫn chơi ngoan, tự lật và tự ngẩng đầu nhưng không biết trườn, bò.
- 1 trả lời
- 1557 lượt xem
Hiện bé nhà em đang được 7 tháng 14 ngày ạ. Bé nặng 7kg thì có phát triển bình thường không bác sĩ? Em thấy bé đã hơn 7 tháng rồi nhưng không được cứng cáp. Khi bế đứng người bé lên thì phải một tay giữ đầu nếu không đầu bé sẽ ngả ra sau. Còn khi ngồi thì đầu bé cũng chưa cứng mà phải dựa vào mẹ. Tuy nhiên bé đã biết tự lật, ngẩng đầu lên và lăn. Tay bé rất nhỏ. Em cho bé đi khám ở bệnh viện Nhi Đồng thì bác sĩ kết luận bé bị thiếu canxi và kê thuốc về cho bé uống. Uống thuốc rồi em vẫn thấy bé không có tiến triển gì. Bé nhà em còn hay ọc sữa nên em phải chia nhỏ các cữ bú. Mỗi lần bé bú 100ml. Các cữ bú cách nhau 1 tiếng. Ngoài uống canxi do bác sĩ kê, em có cho bé uống thêm sữa dinh dưỡng Totimilk dành cho trẻ suy dinh dưỡng. Em cần làm gì để bé tăng cân nhiều và cứng cáp hơn ạ?



