Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập579
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm138
  • Khách viếng thăm440
  • Hôm nay1,296
  • Tháng hiện tại1,614,679
  • Tổng lượt truy cập30,479,720

Sự phát triển của các phương pháp điều trị HIV

Khoảng 30 năm về trước, khi một người nhận được kết quả chẩn đoán nhiễm HIV thì đó chẳng khác nào bị tuyên án “tử hình”. Tuy nhiên ngày nay, đây lại là một tình trạng sức khỏe hoàn toàn có thể kiểm soát được.

Mặc dù vẫn chưa có thuốc chữa khỏi HIV/AIDS nhưng những tiến bộ vượt bậc trong các phương pháp điều trị và hiểu biết lâm sàng về sự tiến triển của virus này đã cho phép những người nhiễm HIV sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn. Thậm chí, khi bắt đầu điều trị sớm và dùng thuốc đều đặn thì nhiều người có “H” còn có tuổi thọ tương đương với người bình thường.

Dưới đây là các phương pháp đang được sử dụng hiện nay để điều trị HIV, cơ chế hoạt động của các phương pháp này và những triển vọng mới trong tương lai.

Cơ chế hoạt động của thuốc điều trị HIV

Phương pháp chính để điều trị HIV hiện nay là dùng thuốc kháng virus hay thuốc ARV. Những loại thuốc này không thể chữa khỏi HIV nhưng có thể ức chế virus, ngăn chặn tác động lên hệ miễn dịch và làm chậm sự tiến triển của bệnh. Mặc dù không đào thải được HIV ra khỏi cơ thể nhưng trong nhiều trường hợp, thuốc ARV có thể làm giảm tải lượng virus xuống mức không thể phát hiện được.

Khi điều trị thành công bằng thuốc ARV, bệnh nhân có thể sống khỏe mạnh, lâu dài và giảm nguy cơ lây truyền virus sang người khác.

Các loại thuốc điều trị HIV

Các loại thuốc kháng virus để điều trị HIV được chia thành 5 nhóm là:

  • Thuốc ức chế men phiên mã ngược nucleoside/nucleotide (NRTI)
  • Thuốc ức chế men phiên mã ngược không phải nucleoside (NNRTI)
  • Thuốc ức chế chuyển chuỗi integrase (INSTI)
  • Thuốc ức chế protease (PI)
  • Thuốc ức chế xâm nhập

Các loại thuốc được liệt kê dưới đây đều đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp phép điều trị HIV.

Thuốc ức chế men phiên mã ngược nucleoside/nucleotide (NRTI)

Nhóm thuốc này ngăn không cho các tế bào nhiễm HIV tự tạo ra bản sao bằng cách làm gián đoạn quá trình tái cấu trúc chuỗi DNA của virus khi virus sử dụng enzyme phiên mã ngược. Các thuốc NRTI gồm có:

  • abacavir (có dạng thuốc độc lập Ziagen hoặc là một phần của viên nén kết hợp 3 loại thuốc abacavir, lamivudin và zidovudin)
  • lamivudine (có dạng thuốc độc lập Epivir hoặc là một phần của viên nén kết hợp 9 loại thuốc)
  • emtricitabine (có dạng thuốc độc lập Emtriva hoặc là một phần của viên nén kết hợp 9 loại thuốc)
  • zidovudine (có dạng thuốc độc lập Retrovir hoặc là một phần của viên nén kết hợp 2 loại thuốc)
  • tenofovir disoproxil fumarate (có dạng thuốc độc lập Viread hoặc là một phần của viên nén kết hợp 9 loại thuốc)
  • tenofovir alafenamide fumarate (có dạng thuốc độc lập Vemlidy hoặc là một phần của viên nén kết hợp 5 loại thuốc)

Zidovudine còn được gọi là azidothymidine hay AZT. Đây là loại thuốc đầu tiên được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) cấp phép điều trị HIV. Hiện nay, thuốc này được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) cho trẻ sơ sinh có mẹ nhiễm HIV chứ ít khi được dùng để điều trị cho người lớn đã mắc bệnh.

Tenofovir alafenamide fumarate được sử dụng trong nhiều loại thuốc kết hợp điều trị HIV. Dạng độc lập của thuốc này (Vemlidy) thường chỉ được sử dụng để điều trị HIV trong thời gian ngắn. Vemlidy còn được FDA phê chuẩn để điều trị viêm gan B mạn tính. Các loại NRTI khác như emtricitabine, lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate cũng có thể được sử dụng để điều trị viêm gan B.

Một số NRTI kết hợp gồm có:

  • abacavir, lamivudine và zidovudine (Trizivir)
  • abacavir và lamivudine (Epzicom)
  • lamivudine và zidovudine (Combivir)
  • lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate (Cimduo, Temixys)
  • emtricitabine và tenofovir disoproxil fumarate (Truvada)
  • emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate (Descovy)

Ngoài mục đích điều trị cho người bị HIV, Descovy và Truvada còn được sử dụng trong phác đồ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP).

Kể từ năm 2019, Lực lượng đặc nhiệm về Dịch vụ phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (The United States Preventive Services Task Force - USPSTF) khuyến nghị tất cả những người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao nên điều trị dự phòng trước phơi nhiễm.

Thuốc ức chế chuyển chuỗi integrase (INSTI)

Các thuốc thuộc nhóm thuốc ức chế chuyển chuỗi integrase (integrase strand transfer inhibitor – INSTI) có tác dụng vô hiệu hóa integrase - một loại enzyme mà HIV sử dụng để đưa ADN của chúng vào ADN của con người bên trong các tế bào T-CD4. INSTI thuộc nhóm thuốc lớn hơn là thuốc ức chế integrase (integrase inhibitor).

INSTI là những loại thuốc đã được sử dụng trong thời gian dài. Các nhóm khác của thuốc ức chế integrase, chẳng hạn như thuốc ức chế liên kết integrase (integrase binding inhibitor - INBI) mới chỉ được coi là thuốc thử nghiệm. INBI hiện chưa nhận được FDA cấp phép.

Các thuốc INSTI gồm có:

  • raltegravir (Isentress, Isentress HD)
  • dolutegravir (có dạng thuốc độc lập Tivicay hoặc là một phần của viên nén kết hợp 3 loại thuốc)
  • bictegravir (kết hợp với emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate trong thuốc Biktarvy)
  • elvitegravir (kết hợp với cobicistat, emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate trong thuốc Genvoya hoặc với cobicistat, emtricitabine và tenofovir disoproxil fumarate trong thuốc Stribild)

Thuốc ức chế protease (PI)

Thuốc ức chế protease (protease inhibitor – PI) vô hiệu hóa protease - một loại enzyme mà HIV cần trong vòng đời của chúng. Các thuốc trong nhóm này gồm có:

  • atazanavir (có dạng thuốc độc lập Reyataz hoặc kết hợp với cobicistat trong thuốc Evotaz)
  • darunavir (có dạng thuốc độc lập Prezista hoặc là một phần trong viên nén kết hợp 2 loại thuốc khác nhau)
  • fosamprenavir (Lexiva)
  • indinavir (Crixivan)
  • lopinavir (kết hợp với ritonavir trong thuốc Kaletra)
  • nelfinavir (Viracept)
  • ritonavir (có dạng thuốc độc lập Norvir hoặc kết hợp với lopinavir trong thuốc Kaletra)
  • saquinavir (Invirase)
  • tipranavir (Aptivus)

Ritonavir (Norvir) thường được sử dụng làm thuốc tăng cường cho các loại thuốc kháng virus khác.

Do đi kèm nhiều tác dụng phụ nên hiện nay indinavir, nelfinavir và saquinavir hiếm khi được sử dụng.

Thuốc ức chế men phiên mã ngược không phải nucleoside (NNRTI)

Các thuốc ức chế men (enzyme) phiên mã ngược không phải nucleoside (non-nucleoside reverse transcriptase inhibitors - NNRTI) có tác dụng ngăn không cho HIV tự tạo ra bản sao của chúng bằng cách liên kết và ngăn chặn enzyme phiên mã ngược. Các thuốc trong nhóm này gồm có:

  • efavirenz (có dạng thuốc độc lập Sustiva hoặc là một phần của viên nén kết hợp 3 loại thuốc)
  • rilpivirine (có dạng thuốc độc lập Edurant hoặc là một phần của viên nén kết hợp 3 loại thuốc)
  • etravirine (Intelence)
  • doravirine (có dạng thuốc độc lập Pifeltro hoặc kết hợp với lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate trong thuốc Delstrigo)
  • nevirapine (Viramune, Viramune XR)

Thuốc ức chế xâm nhập

Thuốc ức chế xâm nhập (entry inhibitor) là một nhóm thuốc có tác dụng ngăn cản HIV xâm nhập vào tế bào T-CD4. Những thuốc này gồm có:

  • enfuvirtide (Fuzeon), thuộc nhóm thuốc ức chế hòa màng
  • maraviroc (Selzentry), thuộc nhóm thuốc đối kháng thụ thể chemokine (thuốc đối kháng CCR5)
  • ibalizumab-uiyk (Trogarzo), thuộc nhóm thuốc chất ức chế sau gắn kết

Thuốc ức chế xâm nhập hiếm khi được sử dụng làm phương pháp điều trị ưu tiên.

Liệu pháp kháng virus

HIV có thể đột biến và kháng lại một số loại thuốc nếu sử dụng riêng lẻ. Do đó, người bệnh phải dùng nhiều loại thuốc cùng lúc để điều trị HIV.

Sự kết hợp của hai loại thuốc kháng virus trở lên được gọi là liệu pháp kháng virus. Đây là phương pháp điều trị ban đầu được chỉ định cho những người nhiễm HIV.

Liệu pháp này được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1995 và nhờ đó mà số ca tử vong do AIDS đã giảm đi 47% từ năm 1996 đến 1997.

Một số liệu pháp kháng virus được dùng phổ biến hiện nay là:

  • Kết hợp hai thuốc thuộc nhóm NRTI với một thuốc thuộc nhóm INSTI
  • Kết hợp hai thuốc thuộc nhóm NRTI với một thuốc thuộc nhóm NNRTI
  • Kết hợp hai thuốc thuộc nhóm NRTI với một thuốc trong nhóm PI

Các liệu pháp này thường có thêm cobicistat (Tybost) để tăng cường hiệu quả. Ngoài ra, đã có một số nghiên cứu cho thấy rằng dù chỉ điều trị bằng hai loại thuốc (thay vì ba như các phác đồ nêu trên) chẳng hạn như INSTI và NRTI hoặc INSTI và NNRTI thì cũng có hiệu quả tương đương.

Những cải tiến trong các loại thuốc cũng giúp việc tuân thủ theo phác đồ điều trị trở nên dễ dàng hơn nhiều so với trước. Những thay đổi này đã làm giảm số lượng thuốc mà người bệnh phải uống. Điều này còn làm giảm đi các tác dụng phụ trong thời gian điều trị. Ngoài ra, sự tương tác giữa các loại thuốc cũng được cải thiện.

Dù mắc bất cứ một bệnh gì thì việc tuân thủ theo phác đồ điều trị cũng đều rất cần thiết.

Tuân thủ ở đây có nghĩa là uống thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ. Khi nhiễm HIV thì việc tuân thủ theo phác đồ điều trị lại càng quan trọng hơn nữa. Nếu một người nhiễm HIV không dùng thuốc theo quy định thì thuốc sẽ giảm hiệu quả hoặc thậm chí không có hiệu quả, virus sẽ bắt đầu nhân lên nhanh chóng và tiếp tục gây tổn hại cho cơ thể. Người bệnh cần uống đủ liều lượng, đúng giờ mỗi ngày và còn phải thực hiện theo những hướng dẫn đi kèm khác, ví dụ như uống thuốc khi đói hay khi no và có cần uống cách xa các loại thuốc khác hay không.

Thuốc kết hợp

Một tiến bộ quan trọng giúp cho việc tuân thủ điều trị trở nên dễ dàng hơn là sự ra đời của các loại thuốc kết hợp. Đây là những loại thuốc hiện được kê phổ biến nhất cho những người nhiễm HIV và chưa từng điều trị trước đây.

Thuốc kết hợp có chứa các loại thuốc khác nhau trong cùng một viên. Hiện tại có 11 thuốc kết hợp có chứa 2 loại thuốc kháng virus và 12 thuốc kết hợp có chứa 3 loại thuốc kháng virus trở lên:

  • Atripla (gồm có efavirenz, emtricitabine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Biktarvy (gồm có bictegravir, emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate)
  • Cimduo (gồm có lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Combivir (gồm có lamivudine và zidovudine)
  • Complera (gồm có emtricitabine, rilpivirine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Delstrigo (gồm có doravirine, lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Descovy (gồm có emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate)
  • Dovato (gồm có dolutegravir và lamivudine)
  • Epzicom (gồm có abacavir và lamivudine)
  • Evotaz (gồm có atazanavir và cobicistat)
  • Genvoya (gồm có elvitegravir, cobicistat, emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate)
  • Juluca (gồm có dolutegravir và rilpivirine)
  • Kaletra (gồm có lopinavir và ritonavir)
  • Odefsey (gồm có emtricitabine, rilpivirine và tenofovir alafenamide fumarate)
  • Prezcobix (gồm có darunavir và cobicistat)
  • Stribild (gồm có elvitegravir, cobicistat, emtricitabine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Symfi (gồm có efavirenz, lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Symfi Lo (gồm có efavirenz, lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Symtuza (gồm có darunavir, cobicistat, emtricitabine và tenofovir alafenamide fumarate)
  • Temixys (gồm có lamivudine và tenofovir disoproxil fumarate)
  • Triumeq (gồm có abacavir, dolutegravir và lamivudine)
  • Trizivir (gồm có abacavir, lamivudine và zidovudine)
  • Truvada (gồm có emtricitabine và tenofovir disoproxil fumarate)

Atripla - được FDA cấp phép vào năm 2006 - là loại thuốc kết hợp có hiệu quả đầu tiên gồm có 3 loại thuốc kháng virus khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay thuốc này ít được sử dụng hơn do có các tác dụng phụ như rối loạn giấc ngủ và thay đổi tâm trạng.

Các thuốc viên kết hợp dựa trên thuốc ức chế chuyển chuỗi integrase (INSTI) là phác đồ được khuyến nghị hiện nay cho hầu hết những trường hợp nhiễm HIV. Lý do là bởi những thuốc này vừa hiệu quả và vừa ít gây tác dụng phụ hơn so với các loại thuốc kết hợp khác. Một số ví dụ gồm có Biktarvy, Triumeq và Genvoya.

Với loại thuốc viên kết hợp được tạo nên từ ba loại thuốc kháng virus khác nhau thì người bệnh chỉ cần dùng một viên thuốc duy nhất mỗi ngày. Đây được gọi là phác đồ điều trị một viên (single-tablet regimen - STR).

Trước đây, STR là phương pháp sử dụng 3 loại thuốc kháng virus. Tuy nhiên, một số thuốc viên kết hợp hai loại thuốc hiện nay (gồm có các loại thuốc từ hai nhóm khác nhau, chẳng hạn như Juluca và Dovato) cũng đã được FDA phê chuẩn là phác đồ điều trị HIV hoàn chỉnh. Do đó, chúng cũng được coi là STR.

Mặc dù thuốc viên kết hợp là một tiến bộ đầy hứa hẹn nhưng không phải trường hợp nào cũng sử dụng được. Khi đi khám, bác sĩ sẽ có hướng dẫn cụ thể.

Triển vọng điều trị trong tương lai

Mỗi năm, các nhà khoa học lại đạt được những bước tiến mới trong quá trình nghiên cứu phương pháp điều trị HIV/AIDS và hướng tới mục tiêu tìm ra một giải pháp chữa khỏi căn bệnh này.

Ví dụ, các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm ứng dụng công nghệ hạt nano vào thuốc kháng virus để điều trị và phòng ngừa HIV. Nếu thành công, những loại thuốc này sẽ được sử dụng cách 4 đến 8 tuần một lần. Điều này giúp làm giảm số lượng thuốc mà người bệnh cần uống và không cần dùng thuốc hàng ngày như hiện nay nữa.

Leronlimab – một loại thuốc tiêm 1 lần/tuần cho những người bị kháng thuốc điều trị HIV - đã cho thấy một số thành công trong các thử nghiệm lâm sàng. Thuốc này cũng đã nhận được FDA chỉ định "Fast Track" – 1 trong 4 chỉ định được cơ quan này đưa ra để đẩy nhanh quá trình phê chuẩn một loại thuốc mới. Điều này giúp Leronlimab nhanh chóng được đưa vào sử dụng chính thức hơn.

Phác đồ điều trị bằng thuốc tiêm hàng tháng gồm có rilpivirine (thuộc nhóm NNRTI) kết hợp với cabotegravir (một thuốc trong nhóm INSTI) dự kiến sẽ được cấp phép để điều trị nhiễm HIV-1 trong thời gian tới. HIV-1 là chủng HIV phổ biến nhất.

Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khác đang được tiến hành để tìm ra vắc-xin phòng ngừa HIV.

Hy vọng trong tương lai gần, con người sẽ có thể chiến thẳng được căn bệnh thế kỷ này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây