Tác nhân gây bệnh thương hàn
1. Thương hàn là gì?
Thương hàn là bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn Trực khuẩn thương hàn (Salmonella typhi) và phó thương hàn (Salmonella paratyphi A, B) gây nên. Bệnh khởi phát đột ngột với sốt cao kéo dài, kèm đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, mạch chậm, táo bón hoặc tiêu chảy và ho khan. Tuy nhiên, cũng có trường hợp nhẹ hoặc không triệu chứng.
Bệnh thương hàn thông thường có thể gặp ở mọi đối tượng, nhưng hay gặp nhất ở trẻ nhỏ do khả năng đề kháng kém và những người sống trong điều kiện vệ sinh kém.
Bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: Thủng đường tiêu hóa, chảy máu tiêu hóa, biến chứng trên hệ thần kinh (viêm não, viêm màng não)...
2. Đặc điểm dịch tễ
2.1 Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh
Tác nhân gây bệnh thương hàn là trực khuẩn thương hàn Salmonella typhi và phó thương hàn Salmonella paratyphi A, B.
- Trực khuẩn thương hàn có khả năng sống tốt, chúng có thể chịu được lạnh, ở nước đá sống 2 - 3 tháng, nước thường > 1 tháng, trong rau quả 5 - 10 ngày, trong phân từ một đến vài tháng.
- Vi khuẩn bị diệt ở nhiệt độ 550C trong 30 phút, cồn 900 trong vài phút, các chất khử trùng thông thường diệt được vi khuẩn dễ dàng(chloramin 3%, phenol 5%).
2.2 Đặc điểm nguồn bệnh
Nguồn gây bệnh duy nhất là người, bao gồm:
- Bệnh nhân: Bài tiết vi khuẩn theo phân (là chủ yếu), ngoài ra còn theo đường nước tiểu, đờm, chất nôn. Vi khuẩn thải qua phân ở tất cả các giai đoạn của bệnh, kể cả giai đoạn nung bệnh, thải nhiều nhất vào tuần 2- 3 của bệnh.
- Người mang khuẩn:
- Người mang khuẩn sau khi khỏi bệnh: Bệnh nhân khỏi hết các triệu chứng nhưng 3-5 % vẫn tiếp tục mang vi khuẩn sau vài tháng (do vi khuẩn khu trú ở túi mật, đường dẫn mật...)
- Người mang khuẩn không có biểu hiện lâm sàng (người lành mang vi khuẩn): Đây chính là đường lây quan trọng khó kiểm soát.
2.3 Đường lây bệnh
Lây đường tiêu hoá, có 2 cách lây
- Đường lây chủ yếu là do ăn, uống phải thực phẩm, nước bị ô nhiễm vi khuẩn, không được nấu chín. Nguyên nhân chủ yếu gây ra những dịch thương hàn có quy mô lớn.
- Do tiếp xúc trực tiếp với chất thải, chân tay, đồ dùng v.v.. của bệnh nhân hay người mang trùng.
3. Dấu hiệu mắc bệnh
Bệnh thương hàn thể điển hình phát triển theo các giai đoạn sau:
3.1 Giai đoạn nung bệnh
Sau khi nhiễm khuẩn bệnh có giai đoạn ủ bệnh trung bình 7-15 ngày. Thường không có triệu chứng. Tuy nhiên người bệnh có thể là nguồn lây nhiễm trong giai đoạn này.
3.2 Giai đoạn khởi phát
Diễn biến bệnh từ từ tăng dần gồm các triệu chứng sau
- Sốt: Nhiệt độ tăng dần, thường có gai rét lúc đầu, ít khi có rét run. Đến ngày thứ 7 của bệnh nhiệt độ tăng cao đến 39-41°C.
- Đau đầu, mệt mỏi, ăn ngủ kém, ù tai.
3.3 Giai đoạn toàn phát
Giai đoạn này kéo dài 2 tuần và thường có những biểu hiện như:
- Sốt thương hàn: Sốt cao liên tục 39-40°C, sốt nóng, sốt hình cao nguyên, là triệu chứng quan trọng và hằng định trong bệnh.
- Biểu hiện nhiễm độc thần kinh: Người bệnh nhức đầu, mất ngủ, ù tai, nói ngọng, tay run bắt chuồn chuồn. Bệnh nhân nằm bất động, vẻ mặt vô cảm thờ ơ tuy vẫn nhận biết kích thích từ môi trường xung quanh, ánh mắt nhìn đờ đẫn. Nặng hơn bệnh nhân li bì, mê sảng, hôn mê thường ít gặp.
- Đào ban (hay hồng ban): Là các ban dát nhỏ, màu hồng, vị trí mọc thường ở bụng, ngực, mạn sườn. Số lượng ban khoảng chục nốt, xuất hiện trong khoảng từ ngày thứ 7 - 12 của bệnh (với phó thương hàn thường nhiều hơn và mọc muộn hơn) và mất đi sau khoảng 2 đến 3 ngày
- Tiêu hoá: Dấu hiệu lưỡi quay (lưỡi khô, rìa lưỡi đỏ, giữa lưỡi phủ một lớp rêu màu trắng hoặc xám); Đi ngoài phân lỏng (5-6 lần/ngày), mùi khẳn; trướng bụng, đầy hơi, đau nhẹ lan khắp bụng; gan lách to.
- Mạch chậm tương đối so với nhiệt độ, gọi là mạch và nhiệt độ phân ly.
3.4 Giai đoạn lui bệnh
Giai đoạn lui bệnh thường kéo dài 1 tuần. Nếu không xảy ra biến chứng bệnh chuyển sang giai đoạn lui bệnh nhiệt độ dao động mạnh rồi xuống từ từ, các dấu hiệu bệnh giảm và hồi phục dần.
4. Phòng ngừa bệnh thương hàn như thế nào?
- Vệ sinh an toàn thực phẩm: Kiểm tra nguồn nước và thực phẩm đạt vệ sinh trước khi ăn, thực hiện ăn chín uống sôi, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
- Tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh: Vắc-xin phòng bệnh thương hàn có khả năng tạo miễn dịch phòng bệnh trong vòng 3 năm.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Dấu hiệu nhận biết trẻ gặp tác dụng phụ với vắc xin là gì?
Bác sĩ có thể cho tôi biết những dấu hiệu nhận biết trẻ gặp tác dụng phụ với vắc-xin không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1145 lượt xem
Có phải vắc-xin có thể gây ra bệnh mà nó phòng không?
Thưa bác sĩ, tôi nghe nhiều người nói, vắc xin có thể gây ra chính bệnh mà nó phòng. Điều này có đúng không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 1389 lượt xem
Tiêm nhiều mũi vắc-xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ thống miễn dịch của bé?
- Thưa bác sĩ, việc sử dụng nhiều hơn một mũi vắc -xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ miễn dịch của bé không ạ?
- 1 trả lời
- 1335 lượt xem
Bé có cần tiêm liều bổ sung nhắc lại không nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã có miễn dịch với bệnh?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, bé nhà tôi có cần phải tiêm liều vắc xin bổ sung nhắc lại không, nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã miễn dịch với bệnh? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1732 lượt xem
Nếu không ai mắc những bệnh này nữa, tại sao trẻ vẫn cần tiêm phòng?
- Tôi có một thắc mắc là nếu không ai mắc bệnh nữa, tại sao vẫn phải cho trẻ tiêm phòng? Bác sĩ giải đáp giúp tôi!
- 1 trả lời
- 1411 lượt xem
Vắc xin cho hiệu quả khá ấn tượng, nhưng bạn vẫn có thể mắc bệnh dù đã tiêm phòng rồi.
Có một số người băn khoăn là Vắc - xin viên gan B có làm tăng nguy cơ mắc bệnh đa xơ cứng không? Hãy tìm hiểu qua bài viết đưới đây để cùng có câu trả lời nhé!
Đưa vi khuẩn vào cơ thể để tạo miễn dịch - ý tưởng chính từ việc tiêm chủng – dường như có vẻ là một ý tưởng hiện đại, nhưng thực tế nó đã trải qua hàng thế kỷ. Lịch sử thú vị của bệnh đậu mùa đã tiết lộ khoảng thời gian áp dụng ý tưởng tuyệt vời này.
Nguồn dinh dưỡng chất lượng hơn và áp dụng biện pháp vệ sinh tốt hơn thực sự đã cải thiện cuộc sống của chúng ta - chúng ta đang cao hơn, khỏe mạnh hơn và sạch sẽ hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, nhìn vào tỷ lệ mắc bệnh thực tế trong nhưng năm qua, không còn nghi ngờ gì nữa, vắc xin mới là yếu tố đóng vai trò chính trong hiệu quả làm suy giảm các ca bệnh mà chúng phòng chống.





