Đối tượng nên tiêm phòng vắc xin lao BCG
1. Đối tượng nên tiêm phòng vắc-xin lao BCG
Theo Thông tư số 38/2017/TT-BYT ngày 17/10/2017 của Bộ Y tế Việt Nam về ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc-xin, sinh phẩm y tế bắt buộc thì vắc-xin BCG là vắc-xin bắt buộc phải tiêm cho trẻ sơ sinh. Ngoài độ tuổi sơ sinh, trẻ em và người lớn dưới 35 tuổi có nguy cơ mắc bệnh lao (TB) cũng có thể tiêm chủng trong một số trường hợp đặc biệt theo sự chỉ định của bác sĩ. Tuy nhiên, các trường hợp từ 1 tuổi trở nên cần rất thận trọng và cân nhắc chỉ định vắc-xin BCG vì nguy cơ phản ứng phụ sau tiêm chủng thường tăng cao và không có bằng chứng cho thấy vắc-xin BCG hoạt động ở những người trên 35 tuổi.
- Trẻ sơ sinh nên tiêm vắc-xin BCG phòng lao: tất cả trẻ sơ sinh đều cần tiêm phòng vắc-xin BCG kể cả trẻ đẻ non. Theo Quyết định 2470/QĐ-BYT ban hành ngày 14/6/2019 về Hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm chủng đối với trẻ em quy định có thể tiêm vắc-xin BCG phòng lao cho trẻ đẻ non từ 34 tuần thai trở lên;
- Trẻ em ngoài tuổi sơ sinh đến 1 tuổi có thể chủng ngừa BCG nếu chưa bị nhiễm trực khuẩn lao. Để đảm bảo an toàn cho trẻ, có thể làm xét nghiệm Mantoux hoặc kháng thể kháng lao để xác định tình trạng nhiễm bệnh và kháng thể kháng lao trước khi tiêm chủng vắc-xin BCG;
- Tất cả trẻ em trên 1 tuổi và người lớn có nguy cơ mắc bệnh lao cần phải cân nhắc giữa khả năng phòng bệnh và phản ứng phụ khi chỉ định tiêm vắc-xin BCG phòng lao bao gồm: trẻ có nguy cơ mắc bệnh lao không được tiêm phòng khi còn nhỏ, trẻ dưới 16 tuổi tiếp xúc với người bị lao phổi hay nhiễm trùng phổi, những người từ 16 đến 35 tuổi có nguy cơ phơi nhiễm lao nên tiêm chủng ngừa BCG bao gồm:
- Nhân viên phòng thí nghiệm tiếp xúc với mẫu máu, nước tiểu và mô;
- Nhân viên thú y và các công nhân làm việc với động vật khác, chẳng hạn như công nhân lò mổ, làm việc với động vật dễ mắc bệnh lao, chẳng hạn như gia súc hoặc khỉ;
- Nhân viên trại giam làm việc trực tiếp với tù nhân;
- Nhân viên nhà trọ cho người vô gia cư;
- Nhân viên làm việc trong các cơ sở cho người tị nạn và người xin tị nạn;
- Nhân viên y tế tăng nguy cơ phơi nhiễm với bệnh lao.
- Khách du lịch chưa bị nhiễm lao, sống trong môi trường không có nguy cơ nhiễm lao nên tiêm vắc-xin BCG khi đi du lịch: Vắc-xin BCG cũng được khuyến nghị cho những người dưới 16 tuổi sẽ sống chung với người dân địa phương trong hơn 3 tháng ở khu vực có tỷ lệ mắc lao cao hoặc nguy cơ mắc lao đa kháng thuốc cao.
2. Những lưu ý khi tiêm vắc-xin lao BCG
Vắc-xin BCG phòng lao - sản xuất từ chủng vi khuẩn sống Calmette - Guérin (Bacillus de Calmette - Guérin: BCG), được sử dụng phổ biến hiện nay ở nước ta là sản phẩm của Viện vắc-xin và sinh phẩm Y tế Nha Trang tại Việt Nam. Vắc-xin BCG phòng lao kích thích cơ thể đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào, khiến phản ứng tuberculin trong da chuyển đổi từ âm tính sang dương tính chỉ sau 1 liều tiêm ở trẻ sơ sinh. Trẻ không cần tiêm nhắc lại. Vắc-xin được chỉ định tiêm cho trẻ trong vòng 1 tháng đầu sau sinh và khuyến cáo hạn chế sử dụng cho trẻ quá 1 tuổi.
Nếu ngoài độ tuổi trên, tùy từng trường hợp mà bác sĩ sẽ cho lời khuyên tốt nhất trước khi tiêm vắc-xin BCG, cần cân nhắc giữa phản ứng phụ sau tiêm với lợi ích của việc tiêm vắc-xin BCG cho tất cả các đối tượng này trước khi chỉ định tiêm chủng. Trước khi tiêm vắc-xin, cần kiểm tra tình trạng đã bị nhiễm hay mắc bệnh lao hoặc đã có kháng thể kháng lao hay chưa. Thử nghiệm, được gọi là xét nghiệm da tuberculin hoặc xét nghiệm Mantoux, sẽ được thực hiện trước khi tiêm vắc-xin BCG nếu có người:
- Trẻ em quá tuổi sơ sinh, người lớn có nhu cầu tiêm vắc-xin BCG;
- Là em bé hoặc trẻ em dưới 6 tuổi có tiền sử cư trú hoặc ở lại kéo dài (hơn 3 tháng) tại một quốc gia có tỷ lệ mắc lao cao;
- Đã tiếp xúc gần gũi với người mắc bệnh lao;
- Có tiền sử gia đình mắc bệnh lao trong vòng 5 năm qua.
Xét nghiệm Mantoux đánh giá mức độ nhạy cảm của cơ thể với một chất gọi là dẫn xuất protein tinh khiết tuberculin (PPD) khi tiêm vào trong da. Sau khi tiêm 48-72 giờ, người ta sẽ đo đường kính của sẩn (vùng cứng) trên da cẳng tay chỗ tiêm tính bằng milimet, phản ứng càng lớn, càng có nhiều khả năng bị nhiễm hoặc mắc bệnh lao. Kết quả được xem là có nguy cơ khi kích thước sẩn là 5mm, 10mm, 15mm tùy từng đối tượng nguy cơ. Trong trường hợp này, không nên tiêm vắc-xin BCG, vì nó sẽ có thể gây ra tác dụng phụ nặng hơn hoặc không có khả năng phòng bệnh. Nếu bạn có kết quả Mantoux dương tính mạnh, bạn nên đến các cơ sở y tế chuyên sâu về bệnh lao để đánh giá thêm tình trạng nhiễm bệnh để điều trị. Nếu xét nghiệm Mantoux âm tính, bạn có thể tiêm vắc-xin BCG.
Ngoài ra, có thể xét nghiệm máu đánh giá kháng thể kháng lao IgG và IgM, nếu kháng thể dương tính cũng không tiêm vắc-xin BCG.
3. Tác dụng phụ khi tiêm vắc-xin lao BCG
- Đa số trẻ em đều có phản ứng tại vết tiêm, thông thường ngay sau khi tiêm vắc-xin BCG sẽ xuất hiện một nốt đỏ nhỏ tại chỗ tiêm và biến mất sau khoảng 30 phút đến 1 giờ;
- Trong 24 giờ sau tiêm vắc-xin lao BCG có thể có biểu hiện sưng, áp xe tại chỗ, có thể kèm theo sốt nhẹ, nổi hạch. Các triệu chứng này thường tự khỏi trong 1 - 3 ngày sau tiêm mà không cần phải điều trị gì;
- Sau 2 tuần đến 2 tháng, có trường hợp lâu hơn, tại vết tiêm xuất hiện đỏ da, hóa mủ trắng, mụn mủ tự vỡ tạo vết loét tại vùng tiêm, kéo dài khoảng 2 tuần. Sau đó, vết loét tự lành và để lại một vết sẹo nhỏ khoảng 3-5 mm. Quá trình này đồng nghĩa với việc cơ thể trẻ đã có miễn dịch với vi khuẩn lao;
- Tiêm không đúng kĩ thuật tiêm trong da hoặc cơ thể phản ứng quá mạnh với vắc-xin phòng lao có thể tạo nên những bọc mụn mủ và vết sẹo quá to tại vị trí tiêm hoặc có thể nổi hạch lao phản ứng tại nách, hạch dưới đòn, hạch cổ bên trái cùng bên với vị trí tiêm vắc-xin BCG. Thông thường tỉ lệ gặp phản ứng này là 1/100 trẻ;
- Các phản ứng nặng khi tiêm BCG thường rất ít gặp, chỉ có 1/1.000.000 người bị nhiễm lao sau khi tiêm BCG, hay xảy ra ở những trường hợp nhiễm HIV hoặc suy giảm miễn dịch mắc phải.
4. Đối tượng không nên tiêm phòng vắc-xin lao BCG
Vắc-xin BCG không được khuyến cáo cho:
- Những người đã được chủng ngừa BCG;
- Những người có tiền sử bệnh lao;
- Những người có xét nghiệm da tuberculin dương tính (Mantoux) hoặc kháng thể kháng lao dương tính;
- Những người đã có một phản ứng dị ứng nghiêm trọng trước đó như phản ứng phản vệ với bất kỳ chất nào được sử dụng trong vắc-xin;
- Trẻ em dưới 2 tuổi bị nghi ngờ hoặc xác nhận mắc bệnh lao hoặc có virus lao hoạt động;
- Những người có tình trạng nhiễm trùng da tại vị trí tiêm vắc-xin;
- Những người có hệ miễn dịch yếu, bệnh nhân bị AIDS, trẻ sơ sinh có biểu hiện giả định HIV nặng, trẻ đang điều trị bằng các phương pháp điều trị như hóa trị liệu hoặc thuốc ức chế hệ thống miễn dịch, thuốc chứa steroid... hoặc những người sử dụng kháng thể Imunoglobin như IVIG, Pentaglobin dưới 3 tháng;
- Những người bị ung thư bạch cầu, tủy xương hoặc các hạch bạch huyết, chẳng hạn như bệnh bạch cầu hoặc ung thư hạch;
- Những người không có vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe (nên tiêm vắc-xin khi hồi phục về sức khỏe);
- Phụ nữ mang thai.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Bé chưa có phản ứng xấu với loại vắc xin nào, thì sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai?
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 9 tháng tuổi, bé chưa bao giờ phản ứng xấu với một loại vắc xin nào. Bác sĩ cho tôi hỏi, điều đó có nghĩa là cháu sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai, phải không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1424 lượt xem
Có phải vắc-xin có thể gây ra bệnh mà nó phòng không?
Thưa bác sĩ, tôi nghe nhiều người nói, vắc xin có thể gây ra chính bệnh mà nó phòng. Điều này có đúng không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 1362 lượt xem
Trẻ em nên bị thủy đậu thay vì tiêm vắc xin, điều này có đúng không?
- Thưa bác sĩ, tôi nghe nhiều người nói trẻ em nên bị thủy đậu, thay vì tiêm vắc xin. Điều này có đúng không vậy? Bác sĩ giải đáp giúp tôi với. Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1473 lượt xem
Làm gì để giảm áp lực của việc tiêm phòng đối với bé?
- Bác sĩ ơi, có cách nào để cha mẹ giúp bé giảm áp lực của việc tiêm vắc xin không ạ? Bé nhà em mỗi lần bước vào phòng tiêm là quấy khóc, đòi đi về, không chịu hợp tác với bác sĩ. Bác sĩ giúp em với ạ!
- 1 trả lời
- 1157 lượt xem
Con tôi bị phát ban 1 tuần sau khi tiêm vắc xin MMR, liệu có phải bé bị sởi không?
- Bác sĩ ơi, con tôi tự nhiên bị phát ban sau 1 tuần tiêm vắc xin MMR, như thế có phải cháu đã bị mắc sởi không ạ? Bác sĩ giải đáp giúp tôi với ạ! Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1462 lượt xem
Vắc xin Hib bảo vệ trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn nặng, phần lớn ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi. Vi khuẩn có thể gây viêm nắp thanh quản (sưng nặng ở cổ họng gây khó thở), một dạng viêm phổi nghiêm trọng và một loại bệnh gọi là viêm màng não do vi khuẩn.
Lợi ích của tiêm phòng vắc xin bại liệt là gì? Lịch tiêm chủng như thế nào? Cần lưu ý những gì trước khi cho bé tiêm phòng vắc xin bại liệt? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây!
Viêm gan B không chỉ thường gặp ở người lớn mà ngay cả trẻ em cũng có thể bị mắc bệnh. Những trẻ bị nhiễm bệnh hoặc là đã bị nhiễm khi ra đời hoặc nhiễm bệnh trong thời thơ ấu khi tiếp xúc gần gũi với người bị bệnh.
Vắc xin này bảo vệ chống lại các trường hợp nhiễm phế cầu khuẩn, phần lớn xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi và có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm.
Vắc xin DTaP bảo vệ bé chống lại 3 bệnh: bạch hầu, ho gà và uốn ván.





