Có thể thay đổi vắc-xin dại trong quá trình tiêm không?
1. Vai trò của vắc - xin phòng dại
Bệnh dại là căn bệnh nguy hiểm của loài người vì không có cách điều trị triệt để. Người mắc bệnh dại do virus dại xâm nhập qua các vết thương do động vật cắn, không có cơ hội được chữa khỏi, tỷ lệ tử vong xấp xỉ 100%. Vì thế, phòng bệnh bằng cách tiêm phòng dại là phương pháp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giảm thiểu số người chết vì căn bệnh này.
Những nạn nhân bị động vật cắn hoặc những người phải tiếp xúc nhiều với virus gây bệnh dại như bên trong các phòng thí nghiệm là đối tượng đặc biệt cần tiêm phòng dại.
2. Tiêm phòng dại như thế nào để đạt được hiệu quả phòng bệnh cao
Để đạt được hiệu quả phòng bệnh dại cao nhất, người dân cần tuân thủ đúng phác đồ tiêm phòng dại được ban hành của các tổ chức y tế có uy tín. Số lượng mũi tiêm và thời gian tiêm phòng dại thay đổi theo từng trường hợp khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đường dùng tình trạng miễn dịch trước đây, đặc điểm của vết cắn.
Thông thường, người bệnh tiêm dự phòng dại trước phơi nhiễm cần tiêm đủ ba liều vào các ngày 0, 7 21 hoặc 28. Trong những trường hợp tiêm phòng dại sau khi phơi nhiễm, liều tiêm vắc-xin phòng dại với số mũi tiêm nhiều hơn trong thời gian lâu hơn. Khuyến cáo tiêm đủ 5 liều vào các ngày 0, 3, 7, 14 và 28. Ngày 0 được tính vào ngày đầu tiên mà người bệnh được tiêm phòng dại, không nhất thiết phải trùng vào ngày bị thương.
Tiêm phòng dại có thể được dùng bằng đường tiêm bắp hoặc tiêm trong da. Nên tiêm phòng dại theo đường tiêm bắp ở vùng cơ mặt trước đùi ở trẻ em và vùng cơ delta cánh tay ở người lớn. Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention - CDC) đưa ra phác đồ tiêm bắp 4 liều vắc-xin kết hợp với 1 liều huyết thanh kháng dại. Phương pháp này được chứng minh có hiệu quả phòng bệnh dại tương đương các phác đồ khác. CDC cho rằng tiêm bắp liều thứ 5 không mang lại nhiều ưu điểm khác biệt.
3. Có nên thay đổi vắc - xin dại trong quá trình tiêm không?
Như vậy, quy trình tiêm phòng dại trải dài trung bình khoảng 28 ngày với các mũi vắc-xin lặp lại. Trong suốt quá trình đó, nhiều vấn đề có thể nảy sinh, bao gồm cả thắc mắc về việc có nên thay vắc-xin dại hay không, vì một lý do nào đó mà không thể hoàn thành dự phòng bệnh dại trước hoặc sau phơi nhiễm với cùng một loại vắc-xin do thiếu hụt hoặc không sẵn có. Trong trường hợp này thì có thể đổi vắc-xin dại. Tuy nhiên, việc thay vắc-xin dại, nghĩa là điều trị dự phòng bệnh bằng ít nhất 2 loại vắc-xin phòng dại khác nhau trong một liệu trình là không được khuyến khích và chỉ nên hạn chế tối đa.
Mỗi loại vắc-xin khác nhau được sản xuất từ các công ty khác nhau nên sẽ có sự khác biệt về các thành phần bên trong như nồng độ virus, chất bảo quản, tá dược, .... Trường hợp duy nhất có thể đổi vắc-xin dại là do hết hoặc không có sẵn vắc-xin dại cùng loại ngay tại cơ sở y tế để tránh việc trì hoãn lịch tiêm chủng vắc-xin phòng dại. Hoàn thành đủ số mũi tiêm là yếu tố cơ bản nhất quyết định hiệu quả phòng bệnh dại.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Làm gì để giảm áp lực của việc tiêm phòng đối với bé?
- Bác sĩ ơi, có cách nào để cha mẹ giúp bé giảm áp lực của việc tiêm vắc xin không ạ? Bé nhà em mỗi lần bước vào phòng tiêm là quấy khóc, đòi đi về, không chịu hợp tác với bác sĩ. Bác sĩ giúp em với ạ!
- 1 trả lời
- 1158 lượt xem
Bé có cần tiêm liều bổ sung nhắc lại không nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã có miễn dịch với bệnh?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, bé nhà tôi có cần phải tiêm liều vắc xin bổ sung nhắc lại không, nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã miễn dịch với bệnh? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1711 lượt xem
Trẻ có thể vẫn bị bệnh sau khi đã được tiêm phòng?
-Thưa bác sĩ, trẻ đã tiêm phòng vẫn có thể bị bệnh, phải không ạ?
- 1 trả lời
- 1096 lượt xem
Nếu không ai mắc những bệnh này nữa, tại sao trẻ vẫn cần tiêm phòng?
- Tôi có một thắc mắc là nếu không ai mắc bệnh nữa, tại sao vẫn phải cho trẻ tiêm phòng? Bác sĩ giải đáp giúp tôi!
- 1 trả lời
- 1383 lượt xem
Tiêm phòng có khiến bé có nguy cơ cao bị chứng rối loạn tăng động giảm chú ý không?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, việc tiêm phòng có làm bé có nguy cơ cao mắc chứng rối loạn tăng động, giảm chú ý không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1647 lượt xem
Nhiều phụ huynh lo ngại tiêm phòng có khiến trẻ có nguy cơ bị hen suyễn cao hơn không? Cùng tìm ra câu trả lời trong bài viết dưới đây!
Tiêm phòng được thiết kế để bảo vệ chống lại các bệnh nặng, từ bệnh bại liệt và uốn ván đến bệnh sởi, quai bị, và cúm mùa. Nhiều người coi tiêm phòng là phần quan trọng nhất trong việc khám và chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị bệnh cúm thường có nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2015-2016, cúm có liên quan đến cái chết của hơn 80 trẻ em ở nước Mỹ.
Ở người bị bệnh, Neisseria meningitidis sống ở vùng hầu họng và lây lan qua các giọt nhỏ ở đường thở hoặc chất tiết ở cổ họng. Ho, hắt hơi, hôn và dùng chung chai nước hoặc dụng cụ sẽ dẫn đến lây bệnh.
Vắc xin Hib bảo vệ trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn nặng, phần lớn ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi. Vi khuẩn có thể gây viêm nắp thanh quản (sưng nặng ở cổ họng gây khó thở), một dạng viêm phổi nghiêm trọng và một loại bệnh gọi là viêm màng não do vi khuẩn.





