Bó bột trị gãy xương - Tai biến và cách xử trí, chăm sóc - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Bó bột là phương pháp giúp bất động xương gãy và giữ cho xương ở tư thế giải phẫu, thúc đẩy quá trình liền xương. Tuy nhiên, nếu việc bó bột không được chuẩn bị tốt và tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt thì có thể xảy ra những tai biến đáng tiếc.
Tai biến
Tai biến tức thì
- Choáng (shock) do đau đớn trong quá trình nắn, bó bột.
- Phản vệ với thuốc tê, thuốc mê.
- Ngộ độc thuốc tê, thuốc mê.
- Co thắt khí phế quản, hội chứng xâm nhập hoặc hiện tượng trào ngược khi người bệnh gây mê, ngừng thở, ngừng tim dẫn đến tử vong.
Tai biến sớm
- Tổn thương mạch máu, thần kinh.
- Xương chọc ra gây gẫy hở thứ phát
- Gẫy thêm xương, đặc biệt với người bệnh cao tuổi và người có bệnh lý về xương
- Phù nề, rối loạn dinh dưỡng, hội chứng chèn ép khoang cấp gây hoại tử chi có thể xảy ra
- Gây liệt tủy với gẫy cột sống không vững
Tai biến muộn
- Rối loạn dinh dưỡng bán cấp và rối loạn dinh dưỡng từ từ
- Thiếu máu bán cấp và mãn tính còn gây xơ hóa các cơ, cơ không còn độ chun giãn đàn hồi nữa, đó chính là biểu hiện của hội chứng Volkmann, Sudeck
- Can lệch: do nắn không tốt, bất động không đúng quy cách...
- Khớp giả: do nắn không tốt, bất động chưa đủ thời gian, do tuổi cao, do không được tư vấn về chế độ ăn uống cũng như hướng dẫn cách tập trong và sau thời gian mang bột.
- Viêm xương: do gẫy xương hở, tụ máu nhiễm trùng, loét do tỳ đè...
Phòng ngừa
- Tri giác để tránh tình trạng thầy thuốc mải nắn bó bột, người bệnh hôn mê dẫn đến tử vong mà không biết, hoặc nắn gây đau dẫn đến hậu quả người bệnh nặng lên về toàn thân.
- Nếu mạch nhanh nhỏ, khó bắt; huyết áp thấp hoặc khó đo, da niêm mạc nhợt... thì không được nắn bó bột, mà phải báo ngay cho bác sĩ trực cấp cứu ngoại khoa để xử trí kịp thời.
- Nhịp thở: bình thường nhịp thở người lớn 16 20 lần/1 phút, nếu nhịp thở bất thường cũng không được làm thủ thuật nắn bó bột, phải báo bác sĩ ngay.
- Có rối loạn cơ tròn không (khi gẫy cột sống): nếu có, nghĩ đến tổn thương đứt tủy, dập tủy, choáng tủy.
- Tổn thương ở các tạng khác: sọ não (tri giác), ngực (khó thở, rối loạn nhịp thở), bụng (đau bụng, chướng bụng, bí trung đại tiện...), tiết niệu (đái máu, không tiểu tiện tự chủ được...).
- Tổn thương ở các chi khác (có thể 1 chân hoặc tay bị gẫy trong tình trạng nặng có thể làm chúng ta quên hoặc bỏ sót các tổn thương ở các chi còn lại).
- Kiểm tra tình trạng cử động và cảm giác của chi gẫy: rất quan trọng, đôi khi người bệnh chỉ thấy cảm giác tê chân, đó cũng có thể là dấu hiệu của tổn thương mạch máu, chứ không chỉ là biểu hiện của tổn thương thần kinh đơn thuần.
- Nếu có nghi ngờ tổn thương mạch máu hoặc thần kinh thì không được bó bột, mà chỉ làm tối thiểu: máng bột, nẹp bột, bất động nhanh và tối thiểu để chuyển đến cơ sở cấp cứu ngoại khoa cho bác sĩ trực mổ cấp cứu chỉ định và xử trí.
Bó bột đúng
- Bó bột theo đúng các mốc đã được quy định đối với cụ thể từng loại bột.
- Bột bó thành một khối vững chắc (nhất là các loại bột lớn phải bó nhiều thì).
- Bất động chi gẫy phải trên 1 khớp, dưới 1 khớp (trừ 1 vài trường hợp đặc biệt).
- Không tỳ đè (đặc biệt vùng khớp, phải đệm lót nhiều để tránh loét).
- Đủ độ dầy: tùy loại bột cụ thể, thường trung bình từ 5 8 lớp.
- Không chặt quá (gây chèn ép bột), không lỏng quá (không có tác dụng bất động).
- Bó đều tay (không lồi, không lõm bột).
Bột cấp cứu (dưới 7 ngày):
- Phải rạch dọc bột, rạch không bỏ sót dù chỉ là 1 sợi gạc (chỉ có các loại bột không rạch dọc là: Minerve, Cravate, Corset, Ngực vai cánh tay, bột cẳng bàn chân ôm gối; nhưng phải độn lót dầy.
- Các loại bột rạch dọc từ gốc chi trở xuống là: Chữ U, Chậu lưng chân, Ngực chậu lưng chân).
- Khám kiểm tra bột, phát hiện sớm các tai biến
- Tổ chức kiểm tra bột: Thời gian thường là 24 giờ, nặng thì 12 giờ, thậm chí từng giờ.
Khám kiểm tra:
- Bột bó có đúng quy định chưa, có bị gẫy bột hoặc long lở bột ra không?
- Tình trạng chi gẫy (lưu ý vùng ngoại vi như bàn ngón chân, bàn ngón tay) ngoài các điểm như phần thăm khám chi gẫy đã nói ở trên
- Cần xem hiện tại bệnh nhân có đỡ đau hơn trước khi bó bột không, có phỏng nước không, đối với trẻ em có quấy khóc hơn không?
- Bột bó có đúng quy định chưa, có bị gẫy bột hoặc long lở bột ra không?
- Tình trạng chi gẫy (lưu ý vùng ngoại vi như bàn ngón chân, bàn ngón tay): ngoài các điểm như phần thăm khám chi gẫy đã nói ở phần trên, cần xem:
Chăm sóc
- Mức độ nhẹ: Nới bột, gác cao chi bó bột.
- Mức độ vừa: Như trên, kèm thêm thuốc chống nề, phong bế gốc chi...
- Mức độ nặng (có dấu hiệu chèn ép khoang, hoặc có tổn thương mạch máu, thần kinh): chuyển mổ cấp cứu để xử trí kịp thời theo tổn thương (giải ép, nối hoặc ghép mạch...).
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Loãng xương là một vấn đề về xương phổ biến, xảy ra khi mật độ hay khối lượng xương giảm, khiến xương trở nên suy yếu và dễ gãy.
Loãng xương là tình trạng mật độ khoáng chất của xương giảm. Điều này khiến xương trở nên xốp, yếu đi và dễ gãy hơn. Tuy rằng không thể chữa khỏi loãng xương nhưng có nhiều phương pháp điều trị giúp ngăn mất xương thêm, thậm chí củng cố xương và giảm nguy cơ gãy xương.
Khi bị gãy xương do loãng xương, giải pháp điều trị thường là phẫu thuật. Vật lý trị liệu, tập thể dục và bổ sung canxi cũng là những điều cần thiết để khôi phục khả năng vận động và giảm nguy cơ gãy xương trong tương lai.
Chứng loãng xương có thể được điều trị bằng thảo dược và một số phương pháp điều trị thay thế khác (phương pháp điều trị thay thế bao gồm tất cả các biện pháp giúp kiểm soát hoặc làm giảm tình trạng bệnh mà không cần dùng đến các phương pháp điều trị chính thống như thuốc).
Loãng xương khiến xương trở nên giòn, yếu và dễ gãy hơn. Các xương có nguy cơ bị gãy cao nhất là xương hông, cổ tay và cột sống. Gãy những xương này cần được điều trị đặc biệt.





