Tăng Amoniac máu - Bộ y tế 2015
1. ĐỊNH NGHĨA.
Trị số NH3 bình thường và bệnh lý như sau:
- Tuổi sơ sinh:
- Khỏe mạnh < 110 μmol/l
- Ốm cao đến 180 μmol/l
- Nghi ngờ rối loạn chuyển hóa bẩm sinh > 200 μmol/l
- Sau giai đoạn sơ sinh:
- 50-80 μmol/l
- Nghi ngờ bệnh chuyển hóa > 100 μmol/l
- Chú ý nồng độ NH3 μmol/l = μg/dl x 0,59
Cách thu thập mẫu bệnh phẩm máu cho xét nghiệm NH3: Máu tĩnh mạch hoặc động mạch, chảy tự do, không nặn, được lưu trữ trong hộp đá và phân tích ngay lập tức.
Nồng độ NH3 trong các mô cao gấp 10 lần trong máu. Tăng giả ammoniac thường gặp.
Điều thiết yếu là phải định lượng ammoniac sớm ở tất cả các trẻ ốm có nghi ngờ rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, nếu không trẻ sẽ bị bỏ sót chẩn đoán và trẻ sẽ không được điều trị một cách có hiệu quả. Nếu không có khả năng thu thập mẫu bệnh phẩm đạt chất lượng thì cũng vẫn định lượng ammoniac máu và xét nghiệm lại với mẫu bệnh phẩm chất lượng tốt hơn nếu kết quả có tăng ammoniac máu.
2. NGUYÊN NHÂN
2.1. Các rối loạn chu trình urea:
- Là nguyên nhân phổ biến nhất của tăng ammoniac máu nặng, biểu hiện bằng bệnh não tiến triển hoặc bệnh não tái phát mạn tính. Khởi đầu, triệu chứng có thể kết hợp với kiềm hô hấp (hậu quả tác động lên trung tâm của tăng ammoniac máu) nhưng có thể xuất hiện kiềm chuyển hóa hoặc toan chuyển hóa.
- Khoảng thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng ban đầu đến khi não bị phá hủy không hồi phục được là ngắn do đó điều trị sớm và hiệu quả là cực kỳ quan trọng.
2.2. Các bệnh axit hữu cơ máu và các khiếm khuyết quá trình oxy hóa axit béo chuỗi dài (ví dụ: propionic máu).
- Khoảng 30% các trường hợp tăng ammoniac máu nặng ở trẻ sơ sinh: tắc nghẽn tổng hợp urea do thiếu hụt acetyl-CoA (cần thiết để tổng hợp N-acetylglutamate) và ức chế NAGS bởi các axit hữu cơ.
- Thường kết hợp với toan chuyển hóa (lactic) ở giai đoạn sớm (chú ý: đôi khi kiềm hóa là do nôn hoặc do tăng ammoniac máu). Mức độ tăng ammoniac không cho phép chẩn đoán phân biệt giữa thiếu hụt chu trình urea và bệnh lý axit hữu cơ máu. Nhìn chung glutamine không tăng trong các bệnh axit hữu cơ máu hoặc các rối loạn oxy hóa axit béo.
2.3. Hội chứng tăng ammoniac máu – cường insulin (hyperinsulinism-hyperammonaemia: HIHA; thiếu hụt glutamate dehydrogenase): giá trị NH3 hiếm khi trên 200 μmol/l
2.4. Suy gan nặng (chú ý: tăng transaminase hoặc giảm PTT có thể gặp trong thiếu hụt chu trình urea).
2.5. Tăng ammoniac máu thoáng qua do mở các ống tĩnh mạch, đặc biệt ở sơ sinh có hội chứng hô hấp nguy kịch – tỷ số Gln/NH3 < 1,6 μmol/ μmol
2.6. Hoạt động cơ tăng lên trong khi hô hấp hỗ trợ, hội chứng hô hấp nguy kịch hoặc sau co giật toàn thân một khoảng thời gian ngắn – NH3 hiếm khi vượt quá 180 μmol/l
3. CÁC THĂM DÒ CẤP CỨU VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
- Phải nghi ngờ rối loạn chuyển hóa ở tất cả các trẻ sơ sinh đủ tháng có NH3 > 200 μmol/l. Bởi vì có sự khác nhau về mặt điều trị cho các nguyên nhân khác nhau gây tăng ammoniac máu cho nên điều quan trọng là tiến tới chẩn đoán chính xác càng sớm càng tốt. Kết quả của các xét nghiệm phải có trong vòng ít giờ, nếu cần ngay cả trong đêm. Liên lạc với chuyên gia chuyên khoa chuyển hóa qua điện thoại, gửi bệnh phẩm nhanh bằng bưu điện (thậm chí taxi).
- Các xét nghiệm bao gồm:
- Các xét nghiệm cơ bản
- Phân tích axit amin máu, niệu
- Phân tích các axit hữu cơ và axit orotic niệu
- Phân tích acylcarnitine từ giọt máu thấm khô
- Các chẩn đoán phân biệt
|
Citrulline huyết thanh |
Các triệu chứng khác | Chẩn đoán |
| Thấp (thường khi) |
tăng axit orotic | Thiếu hụt Ornithine transcarbamylase |
| Acylcarnitine và axit hữu cơ đặc hiệu | Axit hữu cơ máu, ví dụ. bệnh axit Propionic hoặc methylmalonic máu | |
| giảm -n axit orotic | Thiếu Carbamylphosphate synthase Thiếu N-acetylglutamate synthase Thiếu Ornithine aminotransferase (sơ sinh) |
|
| >30 μM | tăng axit oroti | Không dung nạp lysinuric protein |
| >30 μM |
giảm -n axit orotic, tăng lactate |
Thiếu pyruvate carboxylase (sơ sinh) |
| 100-300 μM | tăng Arginosuccinate | Bệnh axit arginosuccinic máu |
| >1000 μM | tăng axit orotic | Citrullinaemia |
4. ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU
Chuẩn bị tất cả các hướng điều trị càng sớm càng tốt khi tăng ammoniac máu được khẳng định. Thải độc ngoài cơ thể phải được bắt đầu ngay lập tức khi NH3 >500 μM. Ngay cả khi áp dụng các biện pháp bảo tồn thì cũng đòi hỏi phải giám sát NH3 và các axit amin máu, bệnh nhân nên được vận chuyển đến trung tâm nhi khoa có chuyên khoa về rối loạn chuyển hóa. Thiết lập ven trung tâm và catheter động mạch.
4.1. Nguyên tắc:
- Ngừng cung cấp protein, giảm dị hóa
- Thải ammoniac (thuốc, lọc máu)
- Bổ Sung các sản phẩm trung gian của chu trình urea như arginine hoặc citrulline; hỗ trợ chuyển hóa ty thể với carnitine trong các bệnh lý axit hữu cơ máu.
- Làm tăng thải ammoniac qua nước tiểu bằng cung cấp dịch toàn thân, cân nhắc lợi tiểu mạnh.
4.2. Thiết lập đường truyền tĩnh mạch đầu tiên:
Glucose 10 mg/kg/phút (dịch 10%: 12 ml/kg/giờ) kết hợp bổ xung điện giải thích hợp.
4.3. Trong vòng 2 giờ
- L-arginine hydrochloride 360 mg/kg (=2 mmol/kg = 2 ml/kg của dung dịch 1 M)
- Na-benzoate 250 mg/kg
- Na-phenylacetate 250 mg/kg TM (hoặc Na-phenylbutyrate 250 mg/kg uống)
- L-carnitine 100 mg/kg (liều thấp hơn nếu nghi ngờ rối loạn oxy hóa axit béo).
- Cân nhắc Ondansetron (Zofran®) 0,15 mg/kg tiêm trực tiếp TM ở trẻ không có hôn mê (truyền có thể gây nôn và buồn nôn)
- L-arginine HCl, Na-benzoate (và carnitine) nên được pha loãng trong dung dịch glucose 5% 35 ml/kg và được truyền định giờ đều đặn bằng các chạc truyền khác nhau.
- Kiểm tra glucose, thêm insulin nếu cần thiết; kiểm tra ammoniac sau 2 giờ.
Chú ý: Na-benzoate và phenylacetate (tiền chất Na-phenylbutyrate chỉ có dạng uống) sẽ có tác dụng thay đổi con đường chuyển hóa để bài tiết nitrogen nhờ sự liên kết với glycine và glutamine tương ứng. Có một số tranh cãi liệu các hoạt chất này nên được sử dụng để giải độc ammoniac trước khi được chẩn đoán vì có nguy cơ về mặt lý thuyết về sự kiệt quệ CoA trong ty thể trong các trường hợp bệnh lý axit hữu cơ máu. Tuy nhiên, ở nhiều trung tâm chuyển hóa, những thuốc này được sử dụng đều đặn để giải độc ammoniac trong các bệnh axit hữu cơ máu (đặc biệt bệnh axit propionic máu) mà không xuất hiện các tác dụng phụ. Na-bezoate và phenylbutyrate/-acetate là các chất độc khi đạt nồng độ cao trong huyết tương (trên 2 mmol/l và 4 mmol/l tương ứng). Đo nồng độ Na- benzoate được khuyến cáo ở giai đoạn sơ sinh, đặc biệt ở trẻ vàng da, nhưng đo nồng độ này ít có khả năng thực hiện được ở hầu hết các trung tâm. Nguy cơ ngộ độc thấp với liều duy trì 250 mg/kg/ngày nhưng có thể xảy ra ở liều cao hơn. Kiểm tra khả năng tăng Na và hạ K đặc biệt trong quá trình điều trị bằng cả Na-benzoate và Na-phenylbutyrate (250 mg/kg Na-benzoate hoặc Na- phenylbutyrate bao gồm 1,74 mmol hoặc 1,35 mmol sodium tương ứng).
4.4. Giải độc ngoài cơ thể:
- Bắt đầu ngay lập tức nếu NH3 >500 μmol/l (>850 mg/dl). Sử dụng siêu lọc nếu có thể. Thẩm phân phúc mạc sẽ không có hiệu quả. Thay máu sẽ tăng protein và ammoniac và không nên thực hiện.
- Cân nhắc carbamyl glutamate 100-200 mg/kg như liều khởi đầu sau đó 100-200 mg/kg/ngày chia 3-4 lần (thời gian bán hủy = 5-6 giờ) ở các bệnh nhân có kết quả xét nghiệm sinh hóa nghi ngờ thiếu CPS I hoặc NAGS (tăng ammoniac cấp tính, axit orotic bình thường, không có các chất chuyển hóa đặc hiệu khác) hoặc ở mỗi bệnh nhân khi kết quả xét nghiệm hóa sinh đặc biệt không thực hiện được trong vòng vài giờ.
5. ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ TĂNG AMMONIAC MÁU
- Truyền duy trì (kéo dài trên 24 giờ)
- Arginine hydrochloride (180-360 mg/kg) (điều chỉnh dựa trên nồng độ Arg máu, mục tiêu là duy trì 80-150 μmol/l; ngừng truyền khi tăng arginine máu hoặc không dung nạp protein lysine niệu.
- Na-benzoate 250 mg/kg (tới 500 mg/kg khi có khẳng định thiếu hụt chu trình urea, cần theo dõi nồng độ thuốc trong huyết tương); Na-phenylacetate/Na- phenylbutyrate 250 mg/kg khi có dạng TM; nếu không thì Na-phenylbutyrate dạng uống 250-500 mg/kg/ngày chia 3 lần.
- Carnitine 100 mg/kg/ngày (không cần nếu thiếu hụt chu trình urea được khẳng định).
- Glucose 10-20 (-30) g/kg, thêm insulin 0,1-1 UI/kg/giờ nếu đường máu > 150 mg/dl hoặc xuất hiện đường niệu.
- Intralipid 0,5-1 g/kg sau khi loại trừ rối loạn oxy hóa axit béo chuỗi dài (tới 3g/kg – giám sát triglyceride).
- Bổ xung nước và điện giải thích hợp.
- Nếu cần thiết: liệu pháp chống nôn với Ondansetron (Zofran® 0,15-0,5mg/kg).
- Điều trị sau khi có chẩn đoán xác định: điều trị thích hợp sau khi có chẩn đoán xác định thiếu hụt chu trình urea hay bệnh lý axit hữu cơ máu.
- Tiên lượng ở trẻ đủ tháng về các biến chứng thần kinh và phát triển tinh thần sẽ tốt nếu thời gian hôn mê dưới 36 giờ trước khi bắt đầu liệu pháp đặc hiệu hoặc nồng độ NH3 (μmol/l) nhân với thời gian hôn mê còn nhỏ hơn <2400μmol/l.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em - Bộ y tế 2015
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Ngoại khoa, chuyên khoa Phẫu thuật Thần kinh - Bộ y tế 2017
500 quy trình kỹ thuật gây mê hồi sức
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em - Bộ y tế 2015
Các chất thải được bài tiết vào nước tiểu đều có mùi nhưng do được hòa loãng với nước (khoảng 95% nước tiểu là nước) nên các chất này thường không còn mùi rõ rệt nữa. Tuy nhiên, nếu nước tiểu trở nên cô đặc, nghĩa là nồng độ chất thải cao hơn thì nước tiểu có thể sẽ có mùi amoniac.
Tăng cholesterol máu là một loại tăng lipid máu. Tăng cholesterol máu nghĩa là nồng độ LDL cholesterol trong máu quá cao hoặc nồng độ HDL cholesterol quá thấp.
Hội chứng tăng áp lực thẩm thấu máu do tăng đường huyết có thể xảy ra với bất kỳ ai nhưng phổ biến hơn ở những người lớn tuổi mắc bệnh tiểu đường type 2.
Màu máu kinh nguyệt có nhiều màu sắc khác nhau, từ hồng, đỏ tươi, đỏ sẫm cho đến cam, nâu hoặc đen. Một số màu sắc là bình thường và được coi là khỏe mạnh nhưng một số lại là dấu hiệu cảnh báo cần đi khám bác sĩ.
Hầu hết phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đều hiểu rõ các đặc điểm về kỳ kinh nguyệt của mình, ví dụ như kéo dài bao lâu, khoảng thời gian bị ra máu nhiều nhất hay có những triệu chứng nào. Vì vậy, khi phát hiện ra có điều bất thường, chẳng hạn như dịch tiết hoặc máu màu nâu sẫm thì lo lắng là điều dễ hiểu.
- 1 trả lời
- 3391 lượt xem
Năm nay em 28 tuổi. Ba năm trước, em đã vào Bệnh viện Phụ sản TW điều trị u tế bào. Tại đây, các bác sĩ đã mổ xén góc tử cung cho em. Lần này, em vừa đi siêu âm thì bác sĩ nói thai em đã được 6 tuần, có phôi và tim thai bình thường, lòng tử cung có tăng sinh mạch máu. Vậy, tăng sinh mạch máu này liệu có nguy hiểm không ạ?
- 1 trả lời
- 555 lượt xem
Đầu năm trước, vợ em đã bị sảy (lúc thai được 5 tuần). Khi có thai lại bé này, 2 tháng đầu, vợ em bị động thai, ra máu nhiều nên phải nằm ở Trung tâm y tế huyện cả tháng để theo dõi và chích thuốc. Đi siêu âm, bs nói vợ em bị thiếu máu, dặn nghỉ ngơi, không đi lại vì thai bám Mặt trước, nhóm II, trưởng thành độ I, chỉ số xét nghiệm máu HGB 10.7, HCT 32.6. Các chỉ số khác bình thường. Giờ, thai đã được 21 tuần, nhưng vợ em lại vừa bị tiêu chảy và thủy đậu, được bs kê cho thuốc bôi và uống. Nhưng em vẫn thấy lo vì vợ em rất gày và không biết có cách nào để vợ, con em khỏe mạnh, an lành không ạ?
- 1 trả lời
- 4631 lượt xem
Đi khám thai ở tuần thứ 24, em đưa bác sĩ xem kết quả xét nghiệm Huyết học từ tuần thứ 6 (MCHC 284g/l, MCH 24.2pg, MCV 85.3 f/l, RBC 4.63, HGB 112 g/l, HCT 39.5%, WBC 9.16, PLT 273...), bác sĩ nói: chỉ số MCH và MCV thấp nên cần xét nghiệm huyết học của cả 2 vợ chồng để biết em bé có bị bệnh máu khó đông hay không - Vợ chồng em rất lo lắng, mong bs tư vấn giúp?
- 1 trả lời
- 888 lượt xem
Em mang thai lần đầu mới được 4,5 tuần. Thấy ra chút máu màu nâu, em gọi điện, bác sĩ bảo cứ nằm nghỉ ngơi hạn chế hoạt động. Nhưng em lo lắm. Liệu dấu hiệu này có ảnh hưởng gì đến thai nhi không ạ?
- 1 trả lời
- 1161 lượt xem
- Thưa bác sĩ, các thảo dược có thể tăng khả năng thụ thai không ạ? Cảm ơn bác sĩ!



