Đái tháo nhạt trung ương - Bộ y tế 2015
1. ĐỊNH NGHĨA
- Đái tháo nhạt trung ương là một bệnh do thiếu hụt một phần hay toàn bộ hormone chống bài niệu (ADH), dẫn đến mất khả năng cô đặc nước tiểu, nước tiểu bị pha loãng và hậu quả là gây đái nhiều, uống nhiều, có thể mất nước và rối loạn điệngiải. Bệnh có thể gặp ở trẻ em đặc biệt ở những bệnh nhân sau phẫu thuật thần kinh hoặc có bất thường ở não.
- Đái nhiều khi thể tích nước tiểu > 2 lít/m2/24h hoặc 150 ml/kg/24 giờ ở trẻ sơ sinh, 100 – 110 ml/kg/24 giờ ở trẻ dưới 2 tuổi, và 40 – 50 ml/kg/24 giờ ở trẻ lớn và người lớn.
2. CHẨN ĐOÁN
2.1. Lâm sàng:
- Triệu chứng đầu tiên là đái nhiều, uống nhiều.
- Trẻ nhỏ có thể có biểu hiện mất nước nặng, nôn, táo bón, sốt, kích thích, rối loạngiấc ngủ, chậm tăng trưởng, tiểu dầm.
- Dấu hiệu mất nước nặng xuất hiện sớm ở trẻ trai thường gợi ý đái tháo nhạt do thận.
- Tình trạng mất nước/cân bằng dịch/bài niệu.
- Các bệnh kèm theo: các nguyên nhângây mất dịch như nguyên nhân dạ dày, dẫn lưu phẫu thuật
- Tiền sử đái tháo nhạt.
- Thay đổi cân nặng là một dấu hiệu để đánh giá tình trạng dịch.
2.2. Xét nghiệm:
- Xét nghiệm cơ bản bao gồm: ure, điệngiải đồ, tổng phân tích nước tiểu, áp lực thẩm thấu máu và niệu đồng thời (lấy bệnh phẩm vào lúc sáng sớm ngay sau khi ngủ dậy).
- Áp lực thẩm thấu máu > 295 mOsmol/kg
- Áp lực thẩm thấu niệu < 300 mOsmol/kg.
- Natri máu có thể tăng
2.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo nhạt trung ương
- Lâm sàng bệnh nhân có đái nhiều > 4 ml/kg/giờ.
- Đái tháo nhạt trung ương được chẩn đoán khi áp lực thẩm thấu máu tăng (> 295 mOsmol/kg), nước tiểu loãng (áp lực thẩm thấu niệu < 300 mOsmol/kg).
- Tỷ số áp lực thẩm thấu niệu/áp lực thẩm thấu máu < 1.
- Natri máu thường tăng do mất nước tự do quá nhiều.
- Có đáp ứng khi điều trị bằng hormone chống bài niệu (số lượng nước tiểu giảm, áp lực thẩm thấu niệu tăng lên).
3. ĐIỀU TRỊ
3.1. Bù nước:
- Bù lại lượng dịch đã mất theo mức độ mất nước. Nếu Natri máu >150mmol/l thì nên bù dịch trong 48 giờ.
- Nếu Na >170 mmol/l thì bệnh nhân nên được điều trị ở khoa điều trị tích cực.
- Có rất nhiều loại chế phẩm của desmopressin:
- Dung dịch nhỏ mũi 100 mcg/ml
- Loại xịt mũi 10 mcg/lần xịt
- Loại tiêm (tiêm bắp) 4 mcg/ml – Hiếm khi sử dụng
- Loại uống 100 mcg/viên và 200 mcg/viên (khoảng 10 mcg loại dùng đường mũi tương đương với 200 mcg loại uống).
- Nguyên tắc điều trị:
- Trẻ nhỏ < 1 tuổi, phải theo chỉ định của bác sỹ nội tiết nhi.
- Trẻ dưới 2 tuổi, liều thường dùng là 2-5 mcg đường mũi.
- Từ 2 tuổi trở lên, liều tương tự như liều người lớn (5-10 mcg/ngày).
- Thuốc dùng đường uống có tác dụng chậm nên không dùng trong các trường hợp cấp cứu.
- Chú ý cân bằng dịch để tránh tình trạng quá tải dịch/hạ natri máu
- Nguyên tắc chung điều trị Desmopressin
- Kiểm tra điệngiải đồ và áp lực thẩm thấu máu, áp lực thẩm thấu niệu hàng ngày cho đến khi ổn định, có thể kiểm tra điệngiải đồ nhiều lần hơn nếu tăng natri máu hoặc cần quan tâm đến tình trạng dịch, hoặc bệnh nhân cần nhịn đói cho phẫu thuật.
- Cần có 1-2 giờ bài niệu > 4ml/kg/giờ trước khi cho liều tiếp theo để cho phép thanh thải nước tự do và tránh hạ natri máu.
- Kiểm tra tỷ trọng nước tiểu 24h
- Cân bằng dịch cẩn thận.
- Cân bệnh nhân hàng ngày.
- Biến chứng của điều trị:
- Hạ natri máu.
- Tăng natri máu.
- Quá tải dịch.
3.2. Đái nhạt trung ương cấp tính
- Đa niệu (khát nếu bệnh nhân tỉnh) gặp sau các rối loạn của trục dưới đồi – tuyến yên: các phẫu thuật nội sọ (u sọ hầu), chấn thương sọ não. Thể tích nước tiểu > 120 ml/m2/giờ (4ml/kg/24 giờ).
- Điều trị:
- Cân bằng ngay lượng dịch bị thiếu hụt bằng dung dịch natriclorua 0,45% - glucose 5% để điều chỉnh áp lực thẩm thấu, glucose và điệngiải.
- Nếu tình trạng đa niệu và mất nước kéo dài có thể truyền AVP.
- Đảm bảo chức năng tuyến thượng thận và tuyếngiáp bình thường.
- Truyền vasopressin với liều 1,5 – 2,5 mU/kg/giờ và chỉnh liều theo tốc độ bài niệu.
- Giảm tốc độ dịch truyền, thường 1lít/m2/ngày.
- Nếu đái nhạt có xu hướng kéo dài thì chuyển sang điều trị desmopressin (dDAVP).
- Sử dụng liều thấp và chỉnh liều theo hiệu quả chống bài niệu.
- Liều khởi đầu: xịt mũi 2,5 mcg, uống 50 mcg (chú ý dùng liều thấp hơn ở trẻ bú mẹ (10 mcg).
- Quá liều có thể gây ứ dịch, vô niệu, giảm natri rất nguy hiểm và khó điều trị.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em - Bộ y tế 2015
Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm - Bộ y tế 2019
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Nhi khoa - Bộ y tế 2017
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận, tiết niệu - Bộ y tế 2015
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em - Bộ y tế 2015
Bệnh võng mạc đái tháo đường và phù hoàng điểm do đái tháo đường là hai trong số các vấn đề về thị lực phổ biến nhất có liên quan đến bệnh đái tháo đường.
Đái tháo nhạt do thận (nephrogenic diabetes insipidus) là một chứng rối loạn hiếm gặp xảy ra khi thận không thể cô đặc nước tiểu. Ở hầu hết mọi người, lượng nước tiểu mà thận tạo ra thay đổi theo lượng nước uống, nhờ đó duy trì sự cân bằng nước trong cơ thể. Tuy nhiên, ở những người bị đái tháo nhạt do thận, thận lại tạo ra quá nhiều nước tiểu. Tình trạng này được gọi là đa niệu và gây khát nước liên tục.
Thông thường, việc mắc một bệnh lý nào đó có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe khác, chẳng hạn như mắc đái tháo đường làm tăng nguy cơ tiểu hoặc đại tiện không tự chủ - tình trạng không thể kiểm soát được việc tiểu tiện hay đại tiện. Tiểu không tự chủ cũng có thể là một triệu chứng của bàng quang tăng hoạt.
Mặc dù đái tháo đường là một bệnh lý phổ biến nhưng không ít người vẫn chưa hiểu đúng về căn bệnh này, dẫn đến những sai lầm trong điều trị bệnh. Một trong những điều mà nhiều người hiểu sai nhất là chế độ ăn uống khi mắc đái tháo đường.
Từ lâu đã có ý kiến cho rằng hội chứng buồng trứng đa nang và bệnh đái tháo đường type 2 có liên quan đến nhau và càng ngày càng có nhiều bằng chứng chỉ ra điều này.
- 1 trả lời
- 806 lượt xem
Em mới đi xét nghiệm dung nạp đường huyết chỉ số lúc đói là 4.06, sau uống nước đường 1 giờ 9.62, sau uống 2 giờ là 10.3 - Bác sĩ kết luận: dương tính đái tháo đường thai kì. Vậy chỉ số đái tháo đường này của em có đáng lo lắm không ạ?
- 1 trả lời
- 5560 lượt xem
Vợ chồng em đã có một bé gái 3 tuổi. Năm nay, tụi em dự định sinh thêm bé nữa. Hiện, em đang uống viên tinh dầu hoa anh thảo, nhưng vẫn muốn bổ sung thêm axit folic và sắt. Vậy, em có thể uống chung tinh dầu hoa anh thảo với vitamin tổng hợp, được không ạ?
- 1 trả lời
- 1099 lượt xem
- Thưa bác sĩ, các thảo dược có thể tăng khả năng thụ thai không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1090 lượt xem
Trễ kinh, em mua 3 que về thử thì đều thấy lên rõ 2 vạch. Nhưng 1 tuần trước đó, do không biết dính bầu nên em lại vừa tiêm thuốc gây mê vào tĩnh mạch để nội soi đại tràng. Vậy, bs cho em hỏi là thuốc gây mê dùng tiêm tĩnh mạch đó có làm ảnh hưởng đến em bé trong giai đoạn đầu của thai kì không ạ?
- 1 trả lời
- 794 lượt xem
Bé nhà em đang được 2 tháng tuổi, bú hoàn toàn bằng sữa mẹ. Tuy nhiên, đã 10 ngày rồi bé chưa đi ị, bụng bé vẫn mềm và không quấy khóc. Trước đó cũng có lần 13 ngày bé không đi ị, phải thụt hậu môn. Bé nhà em như vậy là bị làm sao ạ?



