Suy tim tâm trương: Những điều cần biết
1. Tổng quan về suy tim tâm trương
Nhìn chung, suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp. Khi suy tim có đặc điểm phân suất tống máu EF bảo tồn ≥ 50% thì còn được gọi là suy tim tâm trương. Ngoài ra, cũng có một vài tiêu chuẩn khác kèm theo được dùng để định nghĩa suy tim EF bảo tồn. Chẩn đoán suy tim tâm trương thường gặp nhiều khó khăn bởi vì hầu hết các biện pháp xác định đều loại trừ những nguyên nhân không do tim khác nên triệu chứng tương tự với suy tim. Hơn thế nữa, cho đến nay hiệu quả của những phương pháp điều trị vẫn chưa được chứng minh rộng rãi.
Xét về đặc điểm phân suất tống máu EF bảo tồn, suy tim tâm trương còn được chia làm 2 loại như sau:
- EF bảo tồn, giới hạn 41% - 49%
Những bệnh nhân này có phân suất tống máu thuộc khoảng giới hạn, hay còn gọi là ở nhóm trung gian. Đặc điểm lâm sàng, điều trị và tiên lượng tương tự như người bệnh suy tim EF bảo tồn nói chung.
- EF bảo tồn, cải thiện > 40%
Có trường hợp một số ít bệnh nhân bị suy tim tâm trương nhưng trước đó chỉ số EF có giảm. Những đối tượng này được xếp vào nhóm có EF cải thiện hoặc hồi phục, với các đặc điểm lâm sàng khác biệt với nhóm suy tim EF bảo tồn hoặc EF giảm (suy tim tâm thu).
2. Nguyên nhân suy tim tâm trương
2.1. Nguyên nhân nền
Phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến suy tim là yếu tố quan trọng trong quá trình đưa ra quyết định hướng điều trị đúng đắn. Những nguyên nhân cơ bản gây gây suy tim tâm trương bao gồm:
- Bệnh động mạch vành;
- Tăng huyết áp;
- Hẹp van động mạch chủ;
- Bệnh cơ tim phì đại hoặc cơ tim hạn chế.
2.2. Nguyên nhân thúc đẩy
Mức độ bệnh suy tim nói chung sẽ càng nghiêm trọng hơn nếu người bệnh:
- Không tiết chế;
- Bị rối loạn nhịp tim quá nhanh hoặc chậm;
- Mắc bệnh nhiễm trùng, thiếu máu hoặc hở van tim cấp;
- Lạm dụng bia rượu;
- Phụ nữ có thai;
- Sử dụng thuốc hoặc giảm thuốc điều trị suy tim không đúng liều lượng.
2.3. Các nguyên nhân khác
Ngoài ra, có trường hợp bệnh nhân mắc suy tim tâm thu kèm theo một số bệnh lý tim mạch sau đây cũng có thể đưa đến suy tim EF bảo tồn, chẳng hạn như:
- Nhồi máu cơ tim;
- Thiếu máu cục bộ cơ tim;
- Tắc nghẽn van tim;
- Rối loạn do thâm nhiễm;
- Bệnh chuyển hóa.
3. Triệu chứng suy tim tâm trương
3.1. Triệu chứng cơ năng
Thông thường, triệu chứng suy tim tâm trương cũng sẽ tương tự với các tiêu chuẩn trong suy tim nói chung. Cụ thể là:
- Bệnh nhân đột ngột khó thở dữ dội về đêm;
- Phù cổ chân;
- Ho về đêm;
- Khó thở phải ngồi;
- Khó thở khi gắng sức.
3.2. Triệu chứng thực thể
- Phổi: Nghe tiếng ran ở phổi, tràn dịch màng phổi, có dấu hiệu phù phổi cấp;
- Gan: Gan to, phản hồi gan – tĩnh mạch cổ dương tính;
- Tim: Giãn các buồng tim, nhịp tim nhanh (> 120 chu kì/phút), nghe được tiếng T3;
- Tĩnh mạch: Tĩnh mạch cổ nổi, áp lực tĩnh mạch hệ thống > 16 cmH2O;
- Thời gian tuần hoàn > 25 giây;
- Dung tích sống giảm 1/3 so với chỉ số tối đa;
- Bệnh nhân giảm khoảng 4,5 kg sau 5 ngày điều trị suy tim.
Bên cạnh chỉ số phân suất tống máu EF bảo tồn, chẩn đoán xác định cơ chế suy tim tâm trương còn dựa trên bằng chứng bệnh cấu trúc cơ tim (dày thất trái, giãn nhĩ trái), kèm theo đó là rối loạn chức năng tâm trương.
4. Điều trị suy tim tâm trương
Một số biện pháp điều trị suy tim tâm trương phổ biến hiện nay bao gồm:
- Kiểm soát tốt huyết áp tối đa (tâm thu) và huyết áp tối thiểu (tâm trương).
- Kiểm soát tốt tần số thất ở bệnh nhân rung nhĩ có suy tim tâm trương.
- Chống phù và giảm sung huyết phổi hiệu quả bằng cách sử dụng thuốc lợi tiểu.
- Tái tưới máu mạch vành ở người bệnh suy tim tâm trương nhưng có kèm theo bệnh động mạch vành.
- Giảm triệu chứng cơ năng ở bệnh nhân suy tim tâm trương bằng các loại thuốc, như: Ức chế β, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể Angiotensin II hoặc chẹn kênh Canxi.
Tập thể dục là “liều thuốc tốt” để kiểm soát huyết áp, nếu tập thể dục thường xuyên huyết áp sẽ dần trở về bình thường và giúp cơ thể khỏe mạnh. Tập gym là hình thức tập thể dục, vậy người bị cao huyết áp có nên tập gym?
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất hiện nay và có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi. Khoảng 4% trường hợp rung nhĩ xảy ra ở các bệnh nhân tuổi 8% bệnh nhân độ tuổi 80 trở lên có rung nhĩ.
Đặt stent trong nhồi máu cơ tim là thủ thuật ngoại khoa được áp dụng trong điều trị tim mạch. Đặt stent được chỉ định với trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, mạch vành bị tắc hẹp nặng không đáp ứng tốt với điều trị của thuốc.
Nhồi máu cơ tim hay bệnh động mạch vành cấp tính là một bệnh lý nguy hiểm thường gặp ở người cao tuổi. Tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch vẫn còn cao dù đã có xu hướng giảm so với trước đây. Hiện nay có 5 type nhồi máu cơ tim khác nhau và hay gặp nhất là nhồi máu cơ tim type 1.
Siêu âm tim là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, an toàn và được sử dụng rất phổ biến trong xác định những bất thường của tim.
Huyết áp tâm trương thấp có thể là do một số loại thuốc hoặc do tuổi cao. Huyết áp tâm trương thấp cũng có thể là do bệnh huyết áp thấp.
Bệnh cơ tim Takotsubo (TC) xảy ra khi một phần của tâm thất trái tạm thời bị biến đổi hình dạng và giãn ra, thường do quá căng thẳng về mặt cảm xúc hoặc thể chất. Khi đó, khả năng bơm máu của tim sẽ bị giảm sút. Triệu chứng phổ biến nhất của TC bao gồm đau ngực dữ dội và khó thở, xuất hiện đột ngột.
Bệnh cơ tim thất phải gây loạn nhịp tim (Arrhythmogenic Right Ventricular Cardiomyopathy - ARVC) là một bệnh tim mạch di truyền nguy hiểm đe dọa đến tính mạng, gây tổn thương mô cơ xung quanh tâm thất phải.
Bệnh tim bẩm sinh không tím là một dạng dị tật tim bẩm sinh gây ra tình trạng máu lưu thông bất thường trong tim. Bệnh có thể xảy ra với mức độ từ nhẹ đến nặng. Trẻ mắc bệnh này có thể có biểu hiện thở gấp và mệt mỏi.
Điện tâm đồ (ECG hay EKG) là một kỹ thuật đơn giản, không xâm lấn, không gây đau nhằm đo hoạt động điện tim.





