Nội soi rửa khớp gối trước và trong phẫu thuật
1. Sơ lược giải phẫu khớp gối
Khớp gối đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với chuyển động của cơ thể. Khớp gối ở người có cấu tạo như sau:
1.1 Mặt khớp
Gồm có lồi cầu xương đùi, lồi cầu xương chày, xương bánh chè và sụn chêm. Sụn chêm nằm giữa mặt khớp lồi cầu đùi và mâm chày, có công dụng giảm sốc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc trong quá trình vận động. Mặt khác, sụn chêm còn có tác dụng giữ cho khớp gối vững vàng khi vận động;
1.2 Phương tiện nối khớp
Gồm bao khớp và dây chằng. Bao khớp có tác dụng che chở và bảo vệ khớp. Còn hệ thống dây chằng giữ vững khớp gối khi thực hiện các động tác;
Bao hoạt dịch: Toàn bộ khớp gối được bao phủ bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp với lượng vừa đủ để bôi trơn quá trình vận động của khớp gối, giúp khớp hoạt động dễ dàng. Tuy nhiên, bao hoạt dịch còn có tác dụng chống viêm. Khi bị chấn thương hay viêm nhiễm, bao hoạt dịch có thể bị dày lên, tiết nhiều dịch khớp, làm khớp gối sưng lên. Bên cạnh đó, bao hoạt dịch dày lên cũng gây cản trở thuốc ngấm vào khớp, làm giảm hiệu quả điều trị các bệnh lý ở khớp gối.
2. Nội soi khớp gối là gì?
Nội soi khớp (phẫu thuật lỗ khóa) là kỹ thuật trong đó bác sĩ đưa một camera đưa vào trong đầu gối của bệnh nhân thông qua một đường rạch nhỏ trên da. Qua camera, toàn bộ hình ảnh trong khớp gối sẽ được trình chiếu trên một màn hình lớn, giúp bác sĩ quan sát được mọi cấu trúc nằm trong khớp gối. Nhờ thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật có thể chẩn đoán chính xác các vấn đề như rách sụn, tổn thương dây chằng, viêm khớp,...
Bên cạnh một lỗ nội soi để đưa camera vào khớp gối, một lỗ khác được dùng để đưa dụng cụ vào thực hiện các thao tác phẫu thuật. Thuận lợi của phẫu thuật nội soi so với mổ hở là ít gây đau đớn, thời gian phục hồi sớm hơn và trong một số trường hợp có độ chính xác cao hơn mổ hở.
Nội soi khớp gối được dùng hỗ trợ trong các trường hợp sau:
- Chẩn đoán xác định các thương tổn của khớp gối khi các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học khác không đưa ra được kết luận chính xác;
- Hỗ trợ lấy các dị vật trong khớp gối như các mảnh sụn trong bệnh lý viêm sụn tách rời;
- Phẫu thuật cắt sụn chêm hoặc khâu sụn chêm bị rách khi có chỉ định phẫu thuật (cho kết quả tốt hơn mổ hở);
- Phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước trong tổn thương đứt dây chằng chéo trước của gối. Đây là kỹ thuật dùng sợi gân bánh chè hoặc gân chân ngỗng để thay thế dây chằng chéo trước bị đứt (vì dây chằng chéo trước không có khả năng lành khi được khâu lại);
- Dùng dụng cụ với sự hỗ trợ của nội soi để cắt bao hoạt mạc bị dày lên trong các bệnh lý viêm khớp gối như viêm khớp dạng thấp để cải thiện việc điều trị bằng thuốc kháng viêm;
- Sự trợ giúp của nội soi giúp bác sĩ có thể mổ nắn và kết hợp xương trong các gãy xương đơn giản vùng mâm chày hay bánh chè với độ chính xác cao vì nhìn thấy được mặt khớp trực tiếp;
- Phẫu thuật nội soi cắt các mảnh sụn, bao khớp gối bị rách do thoái hóa, bơm rửa khớp gối, giúp kéo dài thời gian không đau của khớp gối. Ngoài ra, phẫu thuật nội soi khớp gối cũng có thể thực hiện cấy ghép các tế bào sụn nuôi để phục hồi mặt khớp.
3. Chi tiết về phẫu thuật nội soi rửa khớp gối
Rửa khớp gối (lavage) là phương pháp sử dụng dung dịch nước muối sinh lý để bơm rửa khớp gối qua 2 ống trocar. Phương pháp này có hiệu quả cải thiện triệu chứng lâm sàng nhờ loại bỏ các mảnh dị vật do quá trình bào mòn của sụn khớp gây ra, đồng thời loại bỏ các cytokine gây viêm màng hoạt dịch. Đồng thời, nội soi làm sạch khớp gối cũng được sử dụng kết hợp với cắt lọc tổ chức viêm bao hoạt dịch, lấy bỏ các dị vật khớp gối do mảnh sụn vỡ bong ra, cắt bỏ các gai xương rìa khớp. Các mảnh sụn khớp còn bám nhưng mất vững, có nguy cơ bị bong gãy, gây dị vật về sau cũng được loại bỏ khi nội soi rửa khớp gối. Các sụn chêm rách do thoái hóa cũng được xử lý khi thực hiện kỹ thuật này.
3.1 Chỉ định nội soi rửa khớp gối
Phẫu thuật nội soi làm sạch khớp gối được chỉ định cho những bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối nguyên phát có triệu chứng lâm sàng như đau, hạn chế vận động gối và điều trị nội khoa ít thuyên giảm. Cụ thể là các trường hợp:
- Thoái hóa khớp gối giai đoạn 2 và 3;
- Thoái hóa khớp gối có dị vật khớp gối, có dấu hiệu kẹt khớp trên lâm sàng;
- Thoái hóa khớp gối kèm theo viêm dày bao hoạt dịch.
3.2 Chống chỉ định nội soi rửa khớp gối
- Bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn 4, khi khớp đã biến dạng, hẹp khe khớp hoàn toàn;
- Bệnh nhân thoái hóa gối giai đoạn 2 hoặc 3 trên nền viêm đa khớp dạng thấp;
- Bệnh nhân có những bệnh lý mãn tính kèm theo không cho phép phẫu thuật như nhiễm trùng cấp tính tại gối hoặc toàn thân, có rối loạn đông máu,...
4. Quy trình thực hiện nội soi rửa khớp gối
4.1 Chuẩn bị
Chuẩn bị dụng cụ cần thiết
- Hệ thống ống kính nội soi;
- Nguồn sáng và dây cáp quang;
- Hệ thống camera và màn hình;
- Videocamera;
- Hệ thống máy rửa khớp bơm và hút nước.
Chuẩn bị bệnh nhân
- Bệnh nhân nên nhịn ăn khoảng 6 tiếng trước khi thực hiện thủ thuật;
- Bệnh nhân hỏi ý kiến bác sĩ về các vấn đề cần lưu ý, quy trình thực hiện, loại thuốc gây mê, gây tê được sử dụng,...
4.2 Thực hiện
Phẫu thuật nội soi khớp gối thường kéo dài khoảng 30 - 45 phút. Trong suốt quá trình thực hiện, bác sĩ sẽ kiểm tra bên trong khớp, rửa những phần dịch do mòn mặt khớp gây ra. Bác sĩ cũng có thể cắt bỏ hoặc sửa chữa phần sụn rách.
4.3 Sau phẫu thuật nội soi
- Bệnh nhân có thể được cho xuất viện ngay. Thông thường, khớp gối sẽ bị sưng trong vòng một vài tuần và việc đi lại có thể gây đau đớn, khó chịu;
- Nghỉ ngơi trước khi quay lại làm việc theo đúng chỉ định của bác sĩ;
- Vận động phục hồi chức năng khớp gối một cách phù hợp.
4.4 Nguy cơ biến chứng
Phẫu thuật nội soi rửa ổ khớp gối là can thiệp tối thiểu nên khá an toàn. Tuy vậy, bệnh nhân vẫn có thể gặp một số biến chứng như:
- Đau, chảy máu, cứng khớp;
- Nhiễm trùng vết mổ;
- Để lại sẹo xấu;
- Tạo cục máu đông;
- Tiểu khó;
- Tổn thương các dây thần kinh quanh đầu gối.
Nội soi rửa khớp gối là một kỹ thuật hiện đại, giúp chẩn đoán xác định và điều trị những thương tổn của khớp với hiệu quả cao, ít biến chứng. Khi được chỉ định thực hiện thủ thuật này, bệnh nhân cần tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
Tổn thương dây chằng chéo trước là thương tổn thường gặp nhất trong nhóm chấn thương khớp gối. Hàng năm, tại Mỹ khoảng 200.000 bị tổn thương dây chằng chéo trước và hơn nửa số đó phải điều trị bằng phấu thuật.
Xương quai xanh có tác dụng rất quan trọng, là nơi treo xương cánh tay vào thân. Gãy xương quai xanh là một chấn thương thường gặp ở vùng vai, trong trường hợp ngã hoặc chấn thương do tai nạn giao thông.
Hội thấp khớp học Hoa Kỳ (American College of Rheumatology, ARC) đã đưa ra một số tiêu chuẩn để chẩn đoán chính xác thoái hóa khớp gối. Những biểu hiện của thoái hóa khớp gối bao gồm: xuất hiện gai xương dưới sụn, mất dần sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn, cử động khớp đau, có tiếng lục khục, lệch trục khớp...
X-quang có vai trò quan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý khớp gối. Nó là một trong những xét nghiệm nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh và dùng phân biệt giữa các bệnh lý khớp gối khác nhau.
Xương đùi là phần xương chắc khỏe nhất trong cơ thể vì thế phải có lực tác động rất mạnh mới có thể làm gãy thân xương đùi. Xương đùi cũng là xương dài nhất, mỗi vị trí gãy sẽ có đặc điểm và biện pháp xử trí khác nhau.
Có nhiều loại viêm khớp có thể xảy ra ở đầu gối. Mỗi loại có biểu hiện khác nhau nhưng các triệu chứng chung thường gặp của viêm khớp gồm có sưng và đau khớp.
Viêm bao hoạt dịch khớp gối là tình trạng viêm túi chứa dịch lỏng ở đầu gối. Bao hoạt dịch có vai trò giảm ma sát và tạo thành lớp đệm cho các điểm chịu áp lực giữa xương và gân, cơ và da quanh khớp.
Khi bị gãy xương do loãng xương, giải pháp điều trị thường là phẫu thuật. Vật lý trị liệu, tập thể dục và bổ sung canxi cũng là những điều cần thiết để khôi phục khả năng vận động và giảm nguy cơ gãy xương trong tương lai.
Hầu hết mọi người đều bị đau đầu gối vào một thời điểm nào đó trong đời. Thể thao, tập thể dục và các hoạt động khác có thể gây căng cơ, viêm gân và các chấn thương nghiêm trọng ở dây chằng và sụn.
Đau đầu gối là một vấn đề phổ biến ảnh hưởng đến người ở mọi lứa tuổi. Đau đầu gối có thể là do nhiều nguyên nhân gây ra, chẳng hạn như chấn thương đứt dây chằng hoặc rách sụn hay do các bệnh lý như viêm khớp, bệnh gút và nhiễm trùng.





