Ghi hình não - bệnh viện 103
Ghi hình não bằng đồng vị phóng xạ có nhiều ưu điểm là không nguy hiểm, có thể có thể chẩn đoán được nhiều thể bệnh ở não như: rối loạn tuần hoàn não, u não, động kinh, bệnh Parkinson, bệnh lú lẫn, tình trạng chết não…
Bình thường, hàng rào máu não (Brain Blood Barrier – BBB) làm nhiệm vụ ngăn cản, không cho phần lớn các ion từ máu thâm nhập vào tổ chức não. Hàng rào máu não có thể bị tổn thương do sang chấn, thiếu máu, áp xe, u ung thư… khi đó các chất trong máu có thể thâm nhập vào vùng tổn thương. Nếu DCPX là loại không qua BBB lúc bình thường, khi bị tổn thương chúng sẽ xuất hiện trong khoang ngoài tế bào tạo thành “điểm nóng” có hoạt tính phóng xạ cao hơn so với tổ chức xung quanh, cho phép có thể phát hiện qua ghi hình não. Còn nếu dùng các dược chất phóng xạ mà trong điều kiện tổ chức não bình thường chúng vẫn đi qua được, phân bố đều trong tổ chức não thì khi có vùng bị tổn thương sẽ tương ứng với vùng giảm hoặc khuyết phóng xạ.
1. Dược chất phóng xạ trong ghi hình não
- 133Xe: thể khí, E = 81 keV; T1/2 = 127giờ; liều 0,5 – 10 mCi; ghi hình ngay sau khi đưa vào, dùng để nghiên cứu dòng máu não từng vùng (regional cerebral blood flow – rCBF).
- 123I- iodoamphetamine (IMP) và 123I-HIPDM: E =159 keV; T1/2 =13,3giờ; liều dùng: 3-5 mCi; ghi hình tối ưu: 0,5 – 1giờ sau khi tiêm.
- 99mTc- HMPAO (hexamethylpropyleneamine oxime): liều dùng 20 mCi, ghi hình: 0,25-3giờ.
- 99mTc-N, N’-1,2-ethylenediylbis-L-cysteine diethylester (ECD), còn có tên là ethyl cysteinate dimer: liều 30 mCi, ghi hình 0,25- 3giờ sau khi tiêm.
2. Ghi hình tưới máu não
Phương pháp này nhằm phát hiện sự phân bố máu và tưới máu ở các vùng của não. Chỉ định cho các trường hợp:
- Chẩn đoán bệnh Alzheimer.
- Xác định khu vực có ổ kích thích.
- Đánh giá vị trí, kích thước và tiên lượng trong thiếu máu não.
- Chẩn đoán lú lẫn do AIDS (AIDS dementia).
- Ghi hình sự phân bố của tưới máu não trong khi can thiệp.
- Chẩn đoán chết não, đánh giá tổn thương não.
DCPX gồm 99mTc-ECD (neurolite) hoặc 99mTc – HMPAO (ceretec), xâm nhập được qua hàng rào máu não. Liều dùng: 20 mCi. Đường tiêm: tĩnh mạch. Sự phân bố của ĐVPX sẽ tỷ lệ thuận với dòng máu não từng vùng. HMPAO là hợp chất ưa mỡ (lipophilic), không bền vững in vitro (bị oxy hoá). HMPAO có hai dạng đồng phân: d,1-HMPAO và meso-HMPAO. Loại thứ nhất bắt giữ và tồn đọng ở não nhiều hơn. Sau khi tiêm tĩnh mạch, chất này gắn ngay với protein. Đi qua lần đầu, đã có tới 80% được tách ra để vào não. Sự phân bố của DCPX tỷ lệ thuận với rCBF. Tỷ số phân bố ở chất xám và chất trắng là 2,5:1. HMPAO đi qua hàng rào máu não theo cơ chế khuếch tán thụ động. Sau khi đi vào não, phóng xạ có thể tồn lưu đến 24 giờ.
3. Ghi hình chuyển hóa
Ghi hình bằng thiết bị PET (Positron Emission Tomograph), đánh giá mức tiêu thụ glucose ở não, giúp chẩn đoán Alzheimer, Parkinson… DCPX là FDG ([18F] Fluoro-2-Deoxy-D-Glucose). Hình ảnh của xạ hình não trong các bệnh động kinh và sa sút trí tuệ về cơ bản là hình ảnh chức năng. Những thay đổi về chuyển hóa và chức năng của tế bào và tổ chức thần kinh thường xảy ra sớm hơn rất nhiều trước khi có thay đổi về cấu trúc giải phẫu. Trong bệnh động kinh có sự giảm tưới máu và giảm chuyển hóa ở thùy thái dương khi ghi hình. Đối với bệnh Alzheimer và Parkinson trên xạ hình thấy giảm tưới máu (hypoperfusion) vùng thái dương và vùng đỉnh, thường ở cả 2 bán cầu đại não, có khi không cân đối. Khi bệnh tiến triển nặng mới có hiện tượng giảm tưới máu ở thùy trán.
4. Quy trình ghi hình não trên SPECT:
Chỉ định xạ hình não với Tc-99m-Pertechnetate, Tc-99m-DTPA
- U não nguyên phát hoặc thứ phát.
- Viêm não, màng não.
- Bệnh lý mạch máu não: AVM, Cavernom, giảm tưới máu não…
- Tổn thương khu trú nội sọ khác.
Chống chỉ định:
- Bệnh nhân có thai hoặc đang cho con bú.
- Bệnh nhân mẫn cảm với thành phần của thuốc phóng xạ.
– Thuốc phóng xạ: Tc-99m-Pertechnetate
– Liều dùng: 15-25 mCi. Tiêm tĩnh mạch.
Các bước tiến hành:
- Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa.
- Đặt đường truyền tĩnh mạch, chờ 10 phút.
- Tiêm tĩnh mạch liều dược chất phóng xạ đã chuẩn bị và đẩy thuốc bằng nước muối.
- Dặn người bệnh không nói chuyện, đọc sách hay cử động trước khi tiêm, trong khi tiêm và 5 phút sau khi tiêm.
- Người bệnh ngồi hay nằm chờ trong phòng tối từ 15 đến 90 phút.
- Dặn người bệnh đi tiểu trước khi ghi hình.
- Sử dụng collimator độ phân giải cao, năng lượng thấp ( LEHR), cửa sổ năng lượng 20%, matrix 128 x 128.
Thời điểm ghi đo:
- Pha tưới máu (ghi hình động): ghi ngay sau khi tiêm thuốc 2 giây/hình trong thời gian 60 giây.
- Pha bể máu (ghi hình tĩnh): sau pha tưới máu 500 – 800 kcounts/hình ở các tư thế thẳng trước (Ant), thẳng sau (Post), nghiêng phải 90° (RL), nghiêng trái 90° (LL).
- Pha muộn: ghi sau 2 giờ tiêm thuốc.
Nguồn: Bệnh viện 103
Căng thẳng và lo lắng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả thị lực. Căng thẳng có thể gây giảm thị lực và các thay đổi về thị lực khác như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng hoặc thậm chí mất thị lực.
Hầu hết mọi người đều phải trải qua căng thẳng vào một thời điểm nào đó trong đời nhưng căng thẳng mạn tính sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe. Ở những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, căng thẳng có thể khiến các triệu chứng tái phát. Giữ tinh thần thoải mái, ít căng thẳng có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.
Nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể làm tăng tình trạng viêm ở ruột và làm mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột, những điều này sẽ khiến cho bệnh Crohn trở nên nghiêm trọng hơn.
Stress có thể khiến cho bệnh lupus ban đỏ bùng phát. Kiểm soát stress là một điều quan trọng để kiểm soát chứng bệnh này và ngăn ngừa bệnh bùng phát.
Bệnh lý thần kinh do rượu sẽ ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thương vĩnh viễn ở hệ thần kinh và các bộ phận khác của cơ thể nếu người bệnh tiếp tục uống rượu. Điều này có thể dẫn đến khuyết tật, đau đớn mạn tính và thậm chí là tử vong.





