Cúm được chẩn đoán thế nào?
1. Bệnh cúm mùa
Bệnh cúm mùa là một bệnh truyền nhiễm ở đường hô hấp do virus cúm gây ra và lây lan trực tiếp từ người sang người. Bệnh cúm mùa ảnh hưởng đến hệ hô hấp chủ yếu là mũi và cổ họng và bệnh bùng phát phần lớn theo mô hình mùa có thể dự đoán được và xảy ra hàng năm. Bệnh cúm mùa có thể tấn công vào bất cứ lúc nào trong năm và thường theo mùa. Mùa cúm kéo dài từ mùa thu đến mùa xuân, cao điểm trong những tháng của mùa đông.
Bệnh cúm mùa ở trẻ em thường diễn ra trong khoảng 1 tuần, nhưng ở một số trẻ mắc bệnh nghiêm trọng hơn và có thể cần phải nhập viện để điều trị. Bởi vì cúm có thể dẫn đến nhiễm trùng phổi (viêm phổi) và nghiêm trọng hơn là tử vong.
2. Chẩn đoán bệnh cúm mùa
Xét nghiệm cúm có độ nhạy, độ đặc hiệu và chính xác cao phải được thực hiện trong các phòng thí nghiệm chuyên ngành, chẳng hạn như các xét nghiệm được tìm thấy trong bệnh viện hoặc phòng thí nghiệm y tế công cộng. Ngoài ra, còn có xét nghiệm cúm có sẵn để phát hiện virus cúm trong bệnh phẩm hô hấp. Phổ biến nhất được gọi là xét nghiệm chẩn đoán cúm nhanh (RIDTs). Các xét nghiệm cúm khác được gọi là các xét nghiệm phân tử nhanh chóng, phát hiện vật liệu di truyền của virus. Xét nghiệm phân tử nhanh cho kết quả sau 15-20 phút và chính xác hơn RIDT.
Các xét nghiệm cụ thể theo thứ tự ưu tiên:
- RT-PCR, đây là phương pháp xét nghiệm có độ nhạy cao nhất và đặc trưng nhất để kiểm tra virus cúm. Phương pháp này cho kết quả trong vòng 4-6 giờ. Phương pháp RT-PCR cho thấy độ nhạy cao hơn so với phương pháp nuôi cấy virus, và phương pháp này rất hữu ích để phân biệt nhanh giữa các loại cúm. RT-PCR cũng là xét nghiệm ưu tiên đối với các mẫu bệnh phẩm thu được từ những người có tiền sử phơi nhiễm với động vật mắc cúm (ví dụ như cúm A(H5N1)).
- Miễn dịch huỳnh quang. Kháng thể huỳnh quang trực tiếp hoặc nhuộm kháng thể huỳnh quang gián tiếp để phát hiện kháng nguyên cúm được sử dụng làm xét nghiệm sàng lọc. Miễn dịch huỳnh quang cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu thấp hơn một chút so với phân lập virus trong nuôi cấy tế bào, nhưng kết quả có sẵn trong vài giờ sau khi nhận mẫu. Hiệu suất của xét nghiệm này phụ thuộc vào chuyên môn của kỹ thuật viên phòng thí nghiệm và chất lượng của mẫu thu thập được (tức là mẫu bệnh phẩm phải bao gồm các tế bào biểu mô đường hô hấp).
- Xét nghiệm nhanh (RIDTs). Phương pháp xét nghiệm nhanh hoạt động bằng cách phát hiện các bộ phận của virus (kháng nguyên) kích thích phản ứng miễn dịch. Các xét nghiệm này có thể cung cấp kết quả trong khoảng 10-15 phút, nhưng không chính xác như các xét nghiệm cúm khác. Do đó, vẫn có thể bị cúm, mặc dù kết quả xét nghiệm nhanh là âm tính. Hiệu suất của xét nghiệm này phụ thuộc nhiều vào tuổi của người bệnh, thời gian mắc bệnh, loại mẫu bệnh phẩm và loại virus cúm. Với độ nhạy và độ đặc hiệu thấp nên việc sử dụng các xét nghiệm tiếp theo với RT-PCR hoặc nuôi cấy virus nên được cân nhắc để nhận định các kết quả xét nghiệm âm tính.
- Phân lập virus (trong nuôi cấy tế bào chuẩn và nuôi cấy lớp) không phải là xét nghiệm sàng lọc, nhưng trong thời gian hoạt động của cúm thấp hay cúm đầu mùa/cúm cuối mùa (cuối mùa xuân, mùa hè và đầu mùa thu), nên thực hiện trên mẫu bệnh phẩm hô hấp thu thập từ những người nghi ngờ cúm xuất hiện trong vòng 5 ngày sau khi phát bệnh. Đặc biệt là nếu những người đó được biết là có liên quan về mặt dịch tễ với dịch cúm. Trong mùa cúm, nên tiến hành nuôi cấy virus với các mẫu bệnh phẩm hô hấp thu được từ một nhóm người cho mục đích giám sát virus thông thường và để xác nhận một số kết quả xét nghiệm âm tính từ xét nghiệm kháng nguyên và miễn dịch huỳnh quang nhanh.
- Xét nghiệm huyết thanh thường không được khuyến cáo để phát hiện bằng chứng nhiễm virus cúm ở người để kiểm soát bệnh cấp tính. Dữ liệu xét nghiệm huyết thanh cúm cho một mẫu huyết thanh duy nhất có thể được giải thích đáng tin cậy. Các mẫu huyết thanh pha loãng là cần thiết để xác định chuẩn độ kháng thể (bằng cách ức chế hemagglutinin, ELISA hoặc cố định bổ sung, chỉ có sẵn trong các phòng thí nghiệm tham khảo), nhưng kết quả không thể đạt được một cách kịp thời và sẽ không ảnh hưởng đến quản lý lâm sàng. Mẫu huyết thanh ghép chỉ hữu ích cho chẩn đoán hồi cứu và cho mục đích nghiên cứu.
Để giải thích chính xác kết quả xét nghiệm các bác sĩ lâm sàng cần phải hiểu thêm về các hạn chế của xét nghiệm cúm, đặc biệt là xét nghiệm sàng lọc như miễn dịch huỳnh quang hay xét nghiệm nhanh cũng như mức độ hoạt động của cúm trong dân cư được xét nghiệm. Các bác sĩ lâm sàng cũng nên xem xét rằng các kết quả xét nghiệm cúm dương tính không loại trừ nhiễm trùng và đánh giá vi khuẩn đối với nhu cầu tiềm năng của kháng sinh.
- Kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính rất có thể là thực sự dương tính trong các giai đoạn hoạt động cúm cao điểm trong quần thể được thử nghiệm.
- Kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính rất có thể là dương tính giả trong các giai đoạn hoạt động cúm thấp trong cộng đồng được thử nghiệm, bao gồm cúm đầu mùa và cúm cuối mùa. Một xét nghiệm xác nhận như PCR hoặc nuôi cấy virus nên được xem xét.
- Kết quả xét nghiệm sàng lọc âm tính rất có thể là thực sự âm tính trong thời gian hoạt động cúm thấp trong quần thể được thử nghiệm.
- Kết quả xét nghiệm sàng lọc âm tính rất có thể là âm tính giả trong các giai đoạn hoạt động cúm cao điểm trong thử nghiệm cộng đồng. Một xét nghiệm xác nhận, chẳng hạn như PCR hoặc nuôi cấy virus nên được xem xét.
Cúm là bệnh do virus rất phổ biến và dễ lây lan trong cộng đồng. Tuy phần lớn bệnh nhân mắc cúm là nhẹ và tự khỏi nhưng cũng có đối tượng sẽ gặp nguy hiểm khi mắc cúm. Vì vậy, việc chẩn đoán bệnh cúm vô cùng quan trọng, không chỉ dựa vào triệu chứng mà còn phải sử dụng kết quả xét nghiệm từ đó mới có kết quả chính xác cho việc lựa chọn phác đồ điều trị kịp thời để tránh những biến chứng nghiêm trọng do cúm gây ra.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Có đúng là tiêm phòng cúm bạn sẽ bị bệnh cúm?
- Bác sĩ ơi, có đúng là tiêm phòng cúm chúng ta sẽ bị bệnh cúm không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1209 lượt xem
Trẻ có thể vẫn bị bệnh sau khi đã được tiêm phòng?
-Thưa bác sĩ, trẻ đã tiêm phòng vẫn có thể bị bệnh, phải không ạ?
- 1 trả lời
- 1250 lượt xem
Bé chưa có phản ứng xấu với loại vắc xin nào, thì sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai?
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 9 tháng tuổi, bé chưa bao giờ phản ứng xấu với một loại vắc xin nào. Bác sĩ cho tôi hỏi, điều đó có nghĩa là cháu sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai, phải không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1640 lượt xem
Có phải vắc-xin có thể gây ra bệnh mà nó phòng không?
Thưa bác sĩ, tôi nghe nhiều người nói, vắc xin có thể gây ra chính bệnh mà nó phòng. Điều này có đúng không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 1547 lượt xem
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị bệnh cúm thường có nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2015-2016, cúm có liên quan đến cái chết của hơn 80 trẻ em ở nước Mỹ.
Vắcxin HPV mới nhất sẽ bảo vệ chống lại 9 dòng HPV và được khuyến khích tiêm cho trẻ em gái và bé trai theo liệu trình ba liều vào năm 11 hoặc 12 tuổi.
Ở người bị bệnh, Neisseria meningitidis sống ở vùng hầu họng và lây lan qua các giọt nhỏ ở đường thở hoặc chất tiết ở cổ họng. Ho, hắt hơi, hôn và dùng chung chai nước hoặc dụng cụ sẽ dẫn đến lây bệnh.





