Bước tiến mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai
Các bệnh lý tim mạch đã và đang là bệnh thường gặp nhất ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, là một trong những nhóm bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao. Hơn thế nữa, bệnh có nhiều biến chứng nặng nề không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mà còn là gánh nặng cho xã hội và gia đình, chi phí cho chăm sóc và điều trị cũng rất tốn kém.
Trong chẩn đoán hình ảnh các bệnh lý về tim mạch
Chẩn đoán chính xác bệnh luôn là những đòi hỏi hàng đầu để giúp các thày thuốc có được quyết định đúng đắn trong hướng điều trị cho bệnh nhân. Trong một số trường hợp, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh còn giúp hướng dẫn phối hợp trong thủ thuật điều trị.
Một số tiến bộ trong chẩn đoán bệnh tim mạch được đề cập đến những năm gần đây là:
- Siêu âm tim mạch: đặc biệt là siêu âm - Doppler tim, nhất là siêu âm tim Doppler màu ngày càng được ứng dụng rộng rãi
- Siêu âm tim qua thực quản: là một kỹ thuật cho phép nhìn rõ cấu trúc tim hơn, giúp xác định chính xác hơn một số chi tiết quan trọng mà siêu âm qua thành ngực có thể bỏ sót như huyết khối trong buồng tim, tách thành động mạch chủ, các lỗ thông...
- Siêu âm tim gắng sức và siêu âm tim với thuốc tăng co bóp cơ tim: giúp xác định vùng cơ tim thiếu máu trong bệnh ĐMV hoặc xác định khả năng sống của cơ tim.
- Siêu âm tim trong lòng mạch (IVUS): qua đường ống thông đưa đầu dò siêu âm rất nhỏ vào trong lòng mạch (thường là động mạch vành) để giúp xác định rõ cấu trúc mảng xơ vữa thành mạch, đường kính lòng mạch và đoạn mạch lành để giúp can thiệp mạch vành hiệu quả hơn.
- Phương pháp chụp cắt lớp nhiều mặt cắt (CT multiple slides) thế hệ mới: có thể giúp đánh giá được hệ thống động mạch vành đoạn gần, đặc biệt là mức độ vôi hóa động mạch vành mà không phải can thiệp xâm nhập. Phương pháp chụp cộng hưởng từ (MRI) trong tim mạch đã thực sự là phương pháp chẩn đoán hình ảnh động rất có ý nghĩa trong tim mạch, cho phép đánh giá được chính xác các cấu trúc tim, đặc biệt là trong các bệnh tim bẩm sinh.
- Phương pháp chụp mạch cộng hưởng từ (MRA): là phương pháp không xâm lấn có thể cho phép xác định khá chính xác hình thái các mạch máu, dị dạng mạch, phình tách mạch, thậm chí cả hệ thống động mạch vành.
Rối loạn nhịp tim cần chẩn đoán và điều trị kịp thời
Vai trò của phóng xạ đồ tưới máu cơ tim (SPECT) cũng rất quan trọng trong tim mạch. Biện pháp này giúp chẩn đoán vùng thiếu máu cơ tim trong bệnh lý ĐMV và đặc biệt giúp đánh giá khả năng phục hồi (khả năng sống còn) của cơ tim để giúp quyết định có điều trị tái tưới máu ĐMV hay không. 2. Một số tiến bộ trong điều trị các bệnh tim mạch.
Trong điều trị bệnh động mạch vành.
Có lẽ đây là bệnh lý khá phổ biến nên cũng có nhiều tiến bộ nhất. Sự hiểu biết và ứng dụng các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu thế hệ mới đã giúp cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh như đã đề cập ở trên.
Vai trò của clopidogrel trong hội chứng mạch vành cấp đã được khẳng định qua các nghiên cứu CURE và PCI-CURE. Khi cho thuốc này đã làm giảm nguy cơ tương đối tới 30% so với nhóm không được cho.
Thiết bị này được quay với vận tốc rất lớn (200 000 vòng/phút) làm mảng xơ vữa bị bào thành những vi mảnh trôi theo dòng máu. Thiết bị cắt gọt mảng xơ vữa (DCA) và gom lại để đưa ra ngoài, được dùng cho những trường hợp hẹp ở lỗ vào ĐMV hoặc mảng vữa xơ quá lớn cần lấy ra.
Riêng trong lĩnh vực làm mổ cầu nối ĐMV cũng có rất nhiều tiến bộ. Việc phát minh cách mổ với tim vẫn đập làm giảm thời gian hậu phẫu, tránh biến chứng liên quan việc chạy máy tim phổi nhân tạo và kẹp động mạch chủ.
Bên cạnh đó, mổ với kỹ thuật xâm lấn tối thiểu (mini invasive) và mổ bằng robot là những hướng mới có nhiều hứa hẹn trong phẫu thuật ĐMV.
Trong điều trị các bệnh van tim
Những tiến bộ nổi bật nhất phải kể đến trong bệnh lý van tim là những kỹ thuật can thiệp qua da. Nong van hai lá bằng bóng Inoue qua da đã trở thành phương pháp điều trị được lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân bị hẹp van hai lá.
Bằng quả bóng đặc biệt luồn từ tĩnh mạch đùi phải lên nhĩ phải xuyên qua vách liên nhĩ để sang nhĩ trái và thất trái đã giúp nong tách rộng hai mép van bị hẹp ở bệnh nhân HHL khít do thấp.
Tiến bộ trong điều trị rối loạn nhịp
Trong thực hành bệnh tim mạch, rối loạn nhịp tim có lẽ là vấn đề phức tạp nhất. Ngày nay, những tiến bộ không ngừng của KHKT đã cho phép điều trị được triệt để một số loạn nhịp tim như: tim nhanh trên thất, có cầu nối bất thường (WPW); tim nhanh thất... và đặc biệt hiện nay đang chú trọng điều trị rung nhĩ.
Dùng tế bào gốc trong điều trị một số bênh tim mạch
Đây thực sự là vấn đề thời sự và nóng bỏng hiện nay được quan tâm rất nhiều. Cơ sơ lý luận của phương pháp này là dùng tế bào nguồn để biệt hóa có thể sẽ tạo ra những thành phần cơ quan chức năng mới tương ứng để bổ xung hoặc thay thế cho những cơ quan đã hỏng mà không khắc phục được, đặc biệt là trong lĩnh vực bệnh động mạch vành.
Nguồn tham khảo: Bệnh viện Bạch Mai
Viêm mạch hủy bạch cầu (leukocytoclastic vasculitis) là tình trạng viêm các mạch máu nhỏ. Viêm mạch hủy bạch cầu còn được gọi là viêm mạch quá mẫn (hypersensitivity vasculitis). Hủy bạch cầu là quá trình là bạch cầu trung tính (một loại tế bào miễn dịch) phân hủy và giải phóng các mảnh vụn. Viêm mạch hủy bạch cầu có thể do các bệnh lý khác gây ra nhưng cũng có nhiều trường hợp không rõ nguyên nhân.
Co thắt động mạch vành là tình trạng các cơ trong thành động mạch vành đột ngột bị thắt chặt lại, khiến động mạch bị thu hẹp và cản trở dòng máu đến tim. Nhiều trường hợp co thắt động mạch vành không được chẩn đoán vì không gây ra triệu chứng rõ ràng. Điều này có thể nguy hiểm vì tình trạng co thắt kéo dài có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim.
Vôi hóa mạch vành xảy ra khi canxi tích tụ trong các động mạch cung cấp máu cho tim. Sự tích tụ này có thể dẫn đến bệnh động mạch vành và làm tăng nguy cơ đau tim.
Phình động mạch não là tình trạng động mạch trong não bị biến dạng, khiến một vùng trên thành động mạch phồng lên và chứa đầy máu. Tình trạng này còn được gọi là phình động mạch nội sọ hoặc phình động mạch não.
Nhịp tim lúc nghỉ ngơi trung bình thường dao động từ 60 đến 80 bpm, tuy nhiên, một số vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp đến 30-40 bpm. Nếu bạn là vận động viên hoặc là người thường xuyên tập thể dục, nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp thường không là vấn đề, thậm chí còn là biểu hiện cho trạng thái sức khỏe tốt. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy nhịp tim thấp đi kèm với các triệu chứng khác, như mệt mỏi hoặc chóng mặt.





