1

Viêm mạch hủy bạch cầu là gì?

Viêm mạch hủy bạch cầu (leukocytoclastic vasculitis) là tình trạng viêm các mạch máu nhỏ. Viêm mạch hủy bạch cầu còn được gọi là viêm mạch quá mẫn (hypersensitivity vasculitis). Hủy bạch cầu là quá trình là bạch cầu trung tính (một loại tế bào miễn dịch) phân hủy và giải phóng các mảnh vụn. Viêm mạch hủy bạch cầu có thể do các bệnh lý khác gây ra nhưng cũng có nhiều trường hợp không rõ nguyên nhân.
Viêm mạch hủy bạch cầu là gì? Viêm mạch hủy bạch cầu là gì?

Nguyên nhân gây viêm mạch hủy bạch cầu

Viêm mạch hủy bạch cầu có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng cũng có thể là vô căn, nghĩa là không xác định được nguyên nhân.

Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy viêm mạch hủy bạch cầu có liên quan đến các vấn đề về hệ miễn dịch. Các nguyên nhân gây viêm mạch hủy bạch cầu gồm có:

Phản ứng dị ứng

Hầu hết các trường hợp viêm mạch hủy bạch cầu xác định được nguyên nhân là do phản ứng dị ứng với thuốc gây ra. Thông thường, tình trạng này xảy ra sau khi bắt đầu dùng thuốc từ 1 đến 3 tuần.

Có nhiều loại thuốc có thể gây viêm mạch hủy bạch cầu, ví dụ như:

  • beta-lactam
  • erythromycin
  • clindamycin
  • vancomycin
  • sulfonamide
  • furosemide
  • allopurinol
  • Thuốc chống viêm không steroid (NSAID)
  • amiodarone
  • Thuốc chẹn beta
  • Thuốc ức chế TNF-alpha
  • Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI)
  • metformin
  • warfarin
  • axit valproic

Đôi khi, viêm mạch hủy bạch cầu là do dị ứng với thực phẩm hoặc phụ gia thực phẩm.

Nhiễm trùng

Nhiễm trùng cũng là một nguyên nhân phổ biến gây viêm mạch hủy bạch cầu. Nhiễm trùng do vi khuẩn, virus và ký sinh trùng đều có thể gây bệnh.

Thông thường, nguyên nhân là do nhiễm trùng đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn. Các nguyên nhân khác gồm:

  • Vi khuẩn Mycobacterium
  • Virus viêm gan B
  • Virus viêm gan C
  • Vi khuẩn Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng)
  • Vi khuẩn Chlamydia trachomatis
  • Vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae (lậu cầu)
  • HIV

Bệnh tự miễn

Nhiều bệnh tự miễn dịch có thể gây viêm mạch hủy bạch cầu. Vì lý do này nên viêm mạch hủy bạch cầu được cho là có liên quan đến vấn đề về hệ miễn dịch.

Các bệnh tự miễn có thể dẫn đến viêm mạch hủy bạch cầu là:

  • Viêm khớp dạng thấp
  • Bệnh lupus ban đỏ
  • Bệnh Sjogren
  • Ban xuất huyết Schonlein-Henoch (phổ biến nhất ở trẻ em)

Viêm mạch hủy bạch cầu cũng có thể xảy ra do bệnh viêm ruột, gồm có bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.

Trong một số trường hợp, viêm mạch hủy bạch cầu là do thuốc điều trị bệnh viêm ruột gây ra. Tình trạng này thường xảy ra sau khi mắc bệnh viêm ruột nhiều năm.

Bệnh ác tính

Bệnh ác tính xảy ra do sự phát triển tế bào bất thường. Các tế bào phân chia không kiểm soát và xâm lấn các mô xung quanh.

Viêm mạch hủy bạch cầu có thể là do các bệnh ác tính sau đây:

  • Khối u rắn ác tính
  • U lympho
  • Bệnh bạch cầu
  • Rối loạn tăng sinh tủy
  • Rối loạn loạn sản tủy

Viêm mạch hủy bạch cầu có phải là ung thư không?

Viêm mạch hủy bạch cầu là tình trạng viêm mạch máu chứ không phải là ung thư.

Tuy nhiên, viêm mạch hủy bạch cầu là loại viêm mạch máu có mối liên hệ lớn nhất với bệnh ung thư. Viêm mạch hủy bạch cầu đa phần có liên quan đến các loại ung thư bắt đầu trong máu.

Triệu chứng viêm mạch hủy bạch cầu

Triệu chứng dễ nhận thấy nhất của bệnh viêm mạch hủy bạch cầu là các triệu chứng trên da, gồm:

  • Ban xuất huyết (các đốm tím đỏ) gồ lên trên da
  • Đau và nóng rát
  • Ngứa ngáy
  • Bọng nước
  • Mụn mủ
  • Nốt sần
  • Vết loét đóng vảy
  • Xuất hiện các đường màu xanh tím dạng lưới trên da

Ngoài ra, viêm mạch hủy bạch cầu còn có các triệu chứng toàn thân:

  • Sốt nhẹ
  • Sụt cân không chủ đích
  • Đau nhức cơ
  • Đau khớp
  • Nước tiểu hoặc phân có máu
  • Đau bụng
  • Nôn mửa
  • Ho
  • Mệt mỏi

Khoảng 30% người bị viêm mạch hủy bạch cầu có những triệu chứng toàn thân này. Mặc dù hiếm gặp nhưng viêm mạch hủy bạch cầu đôi khi còn gây viêm thận.

Khi nào cần đi khám?

Viêm mạch hủy bạch cầu có thể chỉ gây ra các triệu chứng nhẹ nhưng trong nhiều trường hợp, bệnh gây ra những vấn đề nghiêm trọng. Tốt hơn hết nên đi khám khi nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào của viêm mạch hủy bạch cầu như:

  • Phát ban da kèm đau đớn, nóng rát
  • Nổi các đốm tím đỏ trên da
  • Sốt
  • Sụt cân
  • Khó thở
  • Mệt mỏi
  • Yếu cơ
  • Nước tiểu hoặc phân có máu
  • Nôn mửa
  • Đau khớp hoặc đau cơ dai dẳng

Phương pháp chẩn đoán viêm mạch hủy bạch cầu

Để xác định nguyên nhân gây ra các triệu chứng, bác sĩ sẽ sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán sau:

  • Khám lâm sàng: Bác sĩ kiểm tra da của người bệnh xem có bị đau, sưng và viêm hay không.
  • Chụp X-quang ngực: giúp phát hiện viêm mạch máu ở phổi.
  • Khai thác bệnh sử: để xem các triệu chứng có phải do một bệnh lý đang mắc gây ra hay không.
  • Xét nghiệm máu: giúp phát hiện dấu hiệu của các vấn đề sức khỏe tiềm ẩn. Các xét nghiệm máu cần thực hiện gồm công thức máu toàn bộ (CBC), bảng trao đổi chất cơ bản (BMP), xét nghiệm chức năng gan và thận.
  • Xét nghiệm nước tiểu để tìm dấu hiệu của một số bệnh lý.
  • Sinh thiết đục lỗ: Bác sĩ sử dụng một dụng cụ hình tròn để lấy một mẫu da nhỏ. Mẫu da được phân tích để tìm nguyên nhân gây triệu chứng.

Mặc dù bác sĩ có thể chẩn đoán viêm mạch hủy bạch cầu dựa trên khám lâm sàng nhưng thường phải tiến hành sinh thiết đục lỗ để xác nhận chẩn đoán.

Điều trị viêm mạch hủy bạch cầu

Viêm mạch hủy bạch cầu có thể điều trị bằng các biện pháp không dùng thuốc như chườm lạnh và vớ y khoa, nhưng nếu không hiệu quả thì cần dùng thuốc.

Các biện pháp điều trị không dùng thuốc

Trước hết cần giải quyết nguyên nhân gây viêm mạch hủy bạch cầu. Ví dụ, nếu viêm mạch hủy bạch cầu là do một loại thuốc đang dùng gây ra thì cần phải ngừng loại thuốc đó. Nếu đó là thuốc kê đơn thì người bệnh cần trao đổi với bác sĩ trước khi ngừng thuốc.

Viêm mạch hủy bạch cầu nhẹ có thể điều trị bằng các biện pháp không cần dùng thuốc như:

  • Chườm lạnh
  • Kê cao chân
  • Vớ y khoa
  • Nghỉ ngơi

Tuy nhiên, trường hợp viêm mạch hủy bạch cầu mạn tính (kéo dài) hoặc nghiêm trọng cần phải điều trị bằng các loại thuốc dưới đây.

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID)

Thuốc chống viêm không steroid giúp giảm đau ở da và khớp. Người bệnh có thể mua các loại thuốc này tại hiệu thuốc mà không cần đơn của bác sĩ.

NSAID có thể gây ra một số tác dụng phụ nghiêm trọng, gồm có:

  • Chảy máu
  • Loét
  • Thủng ruột hoặc dạ dày

Nguy cơ gặp phải những tác dụng phụ này sẽ cao hơn:

  • nếu dùng NSAID trong thời gian dài
  • ở người lớn tuổi
  • ở những người có sức khỏe yếu
  • ở những người uống nhiều rượu bia

Colchicine

Colchicine là một loại thuốc được bào chế từ cây tỏi độc (Colchicum autumnale), có tác dụng kiểm soát bạch cầu trung tính trong hệ miễn dịch.

Mặc dù colchicine có thể giúp làm giảm các triệu chứng về da và khớp nhưng không phải khi nào cũng có hiệu quả. Người bệnh có thể cần dùng colchicine cùng với các loại thuốc khác.

Colchicine có thể gây ra các tác dụng phụ như:

  • Đau bụng
  • Buồn nôn
  • Nôn mửa
  • Tiêu chảy

Nếu gặp bất kỳ triệu chứng nào sau đây, hãy ngừng dùng colchicine ngay và báo cho bác sĩ:

  • Môi, lòng bàn tay hoặc lưỡi nhợt nhạt hoặc chuyển màu xám
  • Mệt mỏi
  • Yếu cơ
  • Đau nhức cơ
  • Cảm giác kim châm hoặc tê ngón tay hoặc ngón chân
  • Sốt
  • Ớn lạnh
  • Đau họng
  • Chảy máu bất thường
  • Bầm tím bất thường

Dapsone

Dapsone là một loại thuốc chống viêm được dùng để điều trị viêm mạch hủy bạch cầu mạn tính. Thuốc này có tác dụng giảm phản ứng viêm do bạch cầu trung tính.

Tùy thuộc vào các triệu chứng mà bác sĩ sẽ kê dapsone cùng với colchicine, steroid hoặc thuốc kháng histamine.

Dapsone có thể gây ra một số tác dụng phụ như nôn mửa và đau bụng. Hãy báo ngay cho bác sĩ nếu gặp phải tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc kéo dài dai dẳng.

Người bệnh cũng nên báo cho bác sĩ nếu gặp các triệu chứng sau đây:

  • Vàng da hoặc lòng trắng mắt
  • Phát ban
  • Sốt
  • Đau họng
  • Bầm tím bất thường

Steroid

Giống như NSAID, steroid đường uống cũng được dùng để điều trị triệu chứng phát ban da và đau khớp. Các loại steroid thường được dùng để điều trị viêm mạch hủy bạch cầu là prednisone và methylprednisolone. Đa phần chỉ cần dùng steroid trong thời gian ngắn.

Nếu steroid gây ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng hoặc nếu người bệnh gặp vấn đề về da nghiêm trọng, bác sĩ có thể chỉ định tiêm corticoid tĩnh mạch.

Nếu dùng liều thấp hoặc dùng trong thời gian ngắn, steroid thường không gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Nhưng ở một số người, steroid gây:

  • thay đổi tâm trạng
  • vấn đề về giấc ngủ
  • tăng cảm giác thèm ăn

Người bệnh không được tự ý ngừng dùng steroid đột ngột vì điều này có thể gây ra nhiều vấn đề không mong muốn.

Tiên lượng của người bị viêm mạch hủy bạch cầu

Hầu hết các ca bệnh viêm mạch hủy bạch cầu đều có tiên lượng tốt. Tỷ lệ khỏi bệnh lên đến 90%. Thời gian khỏi bệnh là từ vài tuần đến vài tháng kể từ khi bắt đầu xuất hiện triệu chứng.

10% còn lại mắc viêm mạch hủy bạch cầu mạn tính, có thể kéo dài trung bình từ 2 đến 4 năm.

Viêm mạch hủy bạch cầu có tỷ lệ tử vong thấp, chỉ khoảng 2%. Điều này chỉ xảy ra khi bệnh ảnh hưởng đến nhiều vùng trên cơ thể.

Tóm tắt bài viết

Viêm mạch hủy bạch cầu là tình trạng viêm các mạch máu nhỏ trong da. Nguyên nhân có thể do thuốc, bệnh tự miễn hoặc nhiễm trùng. Tuy nhiên, thường thì không xác định được nguyên nhân gây viêm mạch máu.

Phác đồ điều trị viêm mạch hủy bạch cầu gồm có giải quyết nguyên nhân gốc rễ và các biện pháp làm giảm triệu chứng, chẳng hạn như dùng thuốc để giảm đau da và khớp.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
10 câu hỏi về bệnh cơ tim phì đại
10 câu hỏi về bệnh cơ tim phì đại

Bệnh cơ tim phì đại (hypertrophic cardiomyopathy - HCM) là một bệnh tim mạch làm suy giảm chức năng bơm máu của tim. Bạn cần biết những câu hỏi nên hỏi bác sĩ trong trường hợp mình hoặc người thân được chẩn đoán mắc bệnh này.

Phân biệt thuốc tiêu sợi huyết, thuốc chống đông máu và thuốc chống kết tập tiểu cầu
Phân biệt thuốc tiêu sợi huyết, thuốc chống đông máu và thuốc chống kết tập tiểu cầu

Thuốc tiêu sợi huyết và thuốc chống đông máu đều được dùng để điều trị cục máu đông nhưng hai nhóm thuốc này có tác dụng khác nhau. Thuốc tiêu sợi huyết được dùng trong trường hợp khẩn cấp để phá vỡ cục máu đông trong khi thuốc chống đông máu ngăn ngừa cục máu đông hình thành.

Thuốc chống đông máu và thuốc chống kết tập tiểu cầu có gì khác nhau?
Thuốc chống đông máu và thuốc chống kết tập tiểu cầu có gì khác nhau?

Mặc dù còn được gọi là “thuốc làm loãng máu” (blood thinner) nhưng những loại thuốc này không thực sự làm loãng máu. Thay vào đó, các loại thuốc này ngăn ngừa sự hình thành hoặc phá vỡ cục máu đông trong mạch máu hoặc tim. Nếu không được điều trị, cục máu đông sẽ cản trở sự lưu thông máu và dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.

Cấu tạo và chức năng của hệ tuần hoàn
Cấu tạo và chức năng của hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn hoạt động 24/7 để bơm máu giàu oxy đi khắp cơ thể. Bất kỳ sự cố nào xảy ra với hệ tuần hoàn đều có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng.

Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) điều trị bằng cách nào?
Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) điều trị bằng cách nào?

Bệnh Buerger hay viêm thuyên tắc mạch máu là một bệnh hiếm gặp xảy ra ở động mạch và tĩnh mạch ở tay và chân. Ở những người mắc bệnh lý này, các mạch máu bị viêm, sưng và có thể bị tắc nghẽn do cục máu đông (huyết khối). Điều này làm gián đoạn sự lưu thông máu đến da, làm hỏng mô da và có thể dẫn đến nhiễm trùng hoặc hoại thư. Các triệu chứng đầu tiên của bệnh Buerger thường xuất hiện ở bàn tay và bàn chân rồi cuối cùng lan rộng ra trên cánh tay và cẳng chân.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây