Biến chứng tim mạch của bệnh đái tháo đường - Bệnh viện 108
Đái tháo đường:
-
Là một bệnh nội tiết chuyển hoá đặc trưng bởi sự tăng đường glucose máu mạn tính.
-
Bệnh tiến triển mạn tính dẫn đến rối loạn và suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, não, thận, thần kinh và tim mạch.
- Nguyên nhân tử vong do căn nguyên tim mạch chiếm tới 70% ở các bệnh nhân ĐTĐ.
Yếu tố ảnh hưởng:
- Tuổi cao (≥60 tuổi; càng cao tuổi, nguy cơ càng tăng).
- Tăng huyết áp
- Rối loạn lipid máu (tăng cholesterol; triglycerid máu hoặc kết hợp).
- Béo phì (đặc biệt là béo bụng)
- Nghiện thuốc lào, thuốc lá
- Tình trạng ít vận động
- Tiền sử gia đình có người chết vì nhồi máu cơ tim.
Biểu hiện bệnh tim mạch:
Bệnh mạch vành:
-
Đây là căn nguyên tử vong chủ yếu của bệnh lý tim mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ.
- Biểu hiện lâm sàng rất nghèo nàn.
- Có thể biểu hiện lâm sàng bằng cơn đau thắt ngực (cơn đau thắt sau xương ức, đau có cảm giác như bóp nghẹt tim, lan lên vai tráI, cằm hoặc cánh tay trái); hoặc cảm giác tức nặng ngực trái, hồi hộp đánh trống ngực, khó thở…
Bệnh lý mạch máu não:
- Chủ yếu là gặp tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não) biểu hiện bằng nhồi máu não hoặc xuất huyết não.
- Biểu hiện lâm sàng bằng đột ngột bại hoặc liệt một nửa người, méo miệng, có thể kèm theo rối loạn ý thức ở các mức độ khác nhau.
- Các biểu hiện lâm sàng cũng có thể thoáng qua rồi mất, sau đó có thể tái phát hoặc diễn biến nặng, cũng có thể bị nặng ngay từ đầu để lại di chứng tàn phế hoặc có thể tử vong.
- Các biểu hiện sớm: chóng mặt nhẹ, mất thăng bằng, rối loạn giấc ngủ, giảm sút trí nhớ..
Bệnh lý mạch máu ngoại biên:
- Biểu hiện sớm của tổn thương mạch máu ngoại biên là dấu hiệu “đi cà nhắc cách hồi”, nghĩa là người bệnh thấy đau, mỏi chân hay chuột rút khi đi bộ
- Sau khi nghỉ ngơi, các dấu hiệu hết đi, bệnh nhân lại có thể tiếp tục đi được cho đến khi lại xuất hiện lại các triệu chứng đau
- Lúc đầu, quãng đường đi bộ còn dài, sau đó người bệnh sẽ thấy quãng đường này bị rút ngắn dần
- Ngoài ra các dấu hiệu khác: chuột rút, loét hay hoại tử đầu chi; sờ mạch có thể thấy mạch mu chân mất hoặc yếu; mất mạch khoeo, huyết áp chi dưới thấp
Cơ chế biến chứng tim mạch
-
Tổn thương sớm ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng nội mạc mạch máu.
-
Khi chức năng nội mạc bị rối loạn, làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc.
-
Hình thành mảng vữa xơ động mạch, hoặc mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch, gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ chức.
- Khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương, sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết khối trong lòng mạch làm tắc mạch cấp tính, gây nên các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não.
Biến chứng khác:
- Tổn thương động mạch mắt, sẽ gây nên giảm thị lực rồi dẫn đến mù loà.
- Tổn thương ở động mạch thận sẽ dẫn đến suy thận, tăng huyết áp.
- Tổn thương động mạch vành sẽ dẫn đến cơ đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột tử
- Tổn thương mạch máu não sẽ dẫn đến tai biến mạch máu não
- Tổn thương ở động mạch chi sẽ dẫn đến biểu hiện viêm tắc động mạch chi (đi cà nhắc cách hồi, hoại tử đầu chi...).
Nguyên tắc điều trị:
Phải kiểm soát tốt lượng đường trong máu:
- Theo khuyến cáo của Hội Nội tiết ĐTĐ Việt Nam: căn cứ vào kết quả xét nghiệm đường máu lúc đói và nồng độ HbA1C.
- Tùy theo lứa tuổi và tình trạng bệnh lý kết hợp
- Phải đảm bảo lượng đường máu lúc đói ≤7,0-7,5 mmol/l và HbA1C ≤6,5-7%.
Điều trị toàn diện, phải kết hợp với xử lý các yếu tố nguy cơ đi kèm, đặc biệt là tăng huyết áp, hút thuốc là và rối loạn lipid máu.
Theo dõi thường xuyên và định kỳ, kịp thời phát hiện các biến chứng để xử trí sớm và triệt để
Nguồn: bệnh viện 108
Thông thường, việc mắc một bệnh lý nào đó có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe khác, chẳng hạn như mắc đái tháo đường làm tăng nguy cơ tiểu hoặc đại tiện không tự chủ - tình trạng không thể kiểm soát được việc tiểu tiện hay đại tiện. Tiểu không tự chủ cũng có thể là một triệu chứng của bàng quang tăng hoạt.
Vẫn còn nhiều điều chúng ta chưa biết về lợi ích của châm cứu trong điều trị các triệu chứng của bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới đây đã xác nhận rằng châm cứu là một phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả.
Đái tháo đường và hội chứng ruột kích thích là hai tình trạng khác nhau nhưng có thể cùng xảy ra.
Bệnh đái tháo đường type 1,5 có thể bị chẩn đoán nhầm là đái tháo đường type 2. Nếu bạn có cân nặng khỏe mạnh, lối sống tích cực vận động và đã được chẩn đoán mắc đái tháo đường type 2 thì có khả năng loại đái tháo đường mà bạn thực sự mắc phải là đái tháo đường type 1,5.
Nguyên nhân chính xác gây bệnh đái tháo đường hiện vẫn chưa được xác định rõ nhưng có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh.





