Trầm cảm sau đột quỵ: Những điều cần biết
Trầm cảm sau đột quỵ: Những điều cần biết
Trầm cảm sau đột quỵ (poststroke depression) là thuật ngữ chỉ tình trạng trầm cảm xảy ra sau khi bị đột quỵ ở những người không có tiền sử đột quỵ trước đó.
Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (the American Heart Association) và Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (the American Stroke Association), một phần ba số người từng bị đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua bị trầm cảm sau đột quỵ.
Một tổng quan nghiên cứu vào năm 2024 cho thấy 43,9% người lớn tuổi có thể bị trầm cảm sau đột quỵ.
Mặc dù nguyên nhân chính xác gây trầm cảm sau đột quỵ vẫn chưa được xác định rõ nhưng các chuyên gia tin rằng những thay đổi về sinh hóa và tình trạng viêm do đột quỵ sẽ ảnh hưởng đến các phần não chi phối khả năng kiểm soát tâm trạng và tư duy.
Kết quả của một nghiên cứu nhỏ vào năm 2023 với 85 người tham gia cho thấy đột quỵ có thể góp phần gây ra chứng trầm cảm bằng cách làm thay đổi mạng lưới serotonin của não và ảnh hưởng đến khả năng phục hồi, thích nghi và hình thành các kết nối mới giữa các tế bào thần kinh của não.
Trầm cảm sau đột quỵ cũng có thể là do các yếu tố môi trường gây ra. Quá trình phục hồi sau đột quỵ có thể gây căng thẳng về tinh thần. Đột quỵ có thể dẫn đến những thay đổi lớn về chức năng của cơ thể và điều này ảnh hưởng đáng kể cho cuộc sống hàng ngày.
Triệu chứng của trầm cảm sau đột quỵ
Trầm cảm sau đột quỵ không phải một thuật ngữ được sử dụng chính thức trong chẩn đoán y khoa. Thay vào đó, các chuyên gia y tế chỉ coi đây là một dạng trầm cảm, có đặc điểm là bắt đầu xảy ra sau đột quỵ.
Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm sau đột quỵ cũng giống như tiêu chuẩn chẩn đoán chứng rối loạn trầm cảm nặng (trầm cảm lâm sàng) được nêu trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn tâm thần, phiên bản thứ 5, đã có sửa đổi (DSM-5-TR).
Theo DSM-5-TR, một người được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm khi có hầu hết các triệu chứng dưới đây trong phần lớn thời gian trong ngày, lặp lại hàng ngày và kéo dài ít nhất 2 tuần liên tiếp:
- Tâm trạng chán nản, buồn bã, tuyệt vọng hoặc cảm giác trống rỗng
- Mất hứng thú với các hoạt động từng yêu thích
- Cảm giác tội lỗi hoặc bản thân vô dụng, không có giá trị
- Thay đổi thói quen ngủ (ngủ quá nhiều hoặc quá ít)
- Thay đổi về cảm giác thèm ăn
- Mệt mỏi, thiếu năng lượng và mất động lực
- Di chuyển nhanh hơn hoặc chậm hơn bình thường
- Khó tập trung hoặc khó đưa ra quyết định
- Suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử
Một tiêu chí nữa là phải có ít nhất một trong hai triệu chứng đầu tiên.
Các vấn đề về tâm thần khác có thể xảy ra sau đột quỵ
Tùy thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng, đột quỵ có thể gây ra nhiều vấn đề về tâm thần khác nhau.
Theo tổng quan nghiên cứu vào năm 2023, trầm cảm, rối loạn lo âu và rối loạn căng thẳng sau sang chấn là ba vấn đề về tâm thần phổ biến nhất sau đột quỵ.
Các triệu chứng về cảm xúc và hành vi khác có thể xảy ra sau đột quỵ gồm có:
- Thay đổi tâm trạng bất thường
- Dễ cáu gắt
- Thờ ơ với mọi việc
- Rối loạn kiểm soát xung lực
- Nhiễu loạn cảm xúc (cảm xúc và biểu cảm không phù hợp, chẳng hạn như cười khi buồn)
- Mất nhận thức bệnh tật (không nhận thức được rằng bản thân đang mắc bệnh)
- Mất ngôn ngữ (khó nói hoặc hiểu lời nói của người khác)
Các tình trạng như mê sảng (lú lẫn và kích động) và loạn thần (nhận thức sai lệch, chẳng hạn như nghe hoặc nhìn thấy những thứ không có thật và tin vào những điều không đúng) có thể xảy ra sau đột quỵ nhưng rất hiếm.
Ảnh hưởng của đột quỵ đến mỗi người là khác nhau. Có nhiều người hồi phục sau đột quỵ mà không gặp phải bất kỳ vấn đề nào nghiêm trọng về tâm thần.
Điều trị trầm cảm sau đột quỵ
Hiện chưa có hướng dẫn về phác đồ điều trị tiêu chuẩn cho chứng trầm cảm sau đột quỵ. Phương pháp điều trị trầm cảm sau đột quỵ cũng giống như chứng rối loạn trầm cảm nặng.
Phương pháp điều trị bước đầu là dùng thuốc và trị liệu tâm lý.
Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine là hai nhóm thuốc chống trầm cảm thường được sử dụng để trị trầm cảm sau đột quỵ. Bác sĩ có thể đưa ra các liệu pháp điều trị thay thế tùy thuộc vào nguy cơ xảy ra tác dụng phụ, bệnh sử và tình trạng cụ thể của người bệnh.
Trị liệu tâm lý, đặc biệt là liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT), có thể kiểm soát hiệu quả một số triệu chứng của chứng trầm cảm sau đột quỵ.
CBT giúp người bệnh xác định và điều chỉnh những suy nghĩ cũng như hành vi tiêu cực. CBT còn giúp người bệnh biết cách đối phó với những vấn đề gặp phải hàng ngày.
Trong một số trường hợp, liệu pháp kích thích từ trường xuyên sọ và kích thích điện trực tiếp xuyên sọ có thể giúp điều trị chứng trầm cảm sau đột quỵ nếu các phương pháp điều trị khác không hiệu quả. Các phương pháp này sử dụng dòng điện hoặc từ trường để kích thích các tế bào não.
Ngoài các phương pháp điều trị chính thống, người bệnh có thể thử các phương pháp điều trị bổ sung như yoga, thiền hoặc trị liệu bằng âm nhạc. Những phương pháp này có thể giúp người bệnh kiểm soát tình trạng căng thẳng sau đột quỵ - điều có thể làm trầm trọng thêm chứng trầm cảm.
Tóm tắt bài viết
Trầm cảm sau đột quỵ là một vấn đề phổ biến, đặc biệt là ở người lớn tuổi. Các triệu chứng gồm có tâm trạng chán nản, tuyệt vọng, thiếu năng lượng, mất hứng thú, thay đổi cảm giác thèm ăn và thói quen ngủ.
Chứng trầm cảm sau đột quỵ có thể là do sự kết hợp giữa những thay đổi sinh hóa trong não và các yếu tố môi trường trong quá trình phục hồi sau đột quỵ, chẳng hạn như stress kéo dài. Các phương pháp điều trị trầm cảm sau đột quỵ gồm có thuốc, trị liệu tâm lý và các biện pháp can thiệp không dùng thuốc khác.
Hạch nền là các tế bào thần kinh nằm sâu trong não, có vai trò then chốt đối với khả năng vận động, chức năng điều hành, hành vi và cảm xúc. Tế bào thần kinh là các tế bào não có vai trò giống như sứ giả truyền tín gửi tín hiệu đi khắp hệ thống thần kinh. Bất kỳ sự thương tổn nào ở các hạch nền đều có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng, lâu dài đến khả năng cử động, ngôn ngữ hoặc khả năng phán đoán.
Những người bị đột quỵ có thể bị thay đổi thị lực hoặc mất thị lực. Thị lực có sự thay đổi do đột quỵ làm tổn thương một phần não hoặc ảnh hưởng đến các dây thần kinh và cơ xung quanh mắt. Cho dù không có triệu chứng của vấn đề về thị lực thì cũng nên khám mắt sau đột quỵ.
Khoảng thời gian vàng để cấp cứu người bị đột quỵ là trong vòng 3 giờ đầu tiên và sau khi qua giai đoạn nguy hiểm, người bệnh sẽ phải trải qua quá trình phục hồi chức năng kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Sau đột quỵ, người bệnh cần sử dụng một số loại thuốc, trị liệu và điều chỉnh lối sống để điều trị các biến chứng và giảm nguy cơ đột quỵ tái phát.
Đột quỵ có thể dẫn đến đau, tê, yếu cơ và giảm phạm vi chuyển động ở cánh tay và vai. Tình trạng đau cánh tay và vai thường có thể kiểm soát bằng các phương pháp điều trị như dùng thuốc giảm đau và vật lý trị liệu.
Đột quỵ xảy ra khi một động mạch trong não bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ. Điều này gây tổn thương một phần não cùng với tủy sống và dẫn đến nhiều biến chứng, chẳng hạn như co cứng cơ.








