Tại sao người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ đột quỵ cao hơn?

Người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn so với những người không mắc bệnh. Ngoài ra, bệnh nhân đái tháo đường còn có nguy cơ bị đột quỵ ở độ tuổi trẻ hơn và dễ gặp phải biến chứng nghiêm trọng hơn.
Tại sao người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ đột quỵ cao hơn?

Mối liên hệ giữa bệnh đái tháo đường và đột quỵ

Bệnh đái tháo đường có thể làm tăng nguy cơ gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó có đột quỵ hay tai biến mạch máu não.

Theo Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (American Stroke Association), những người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp đôi so với những người không bị đái tháo đường. (1) Người bệnh đái tháo đường còn có nguy cơ bị đột quỵ sớm hơn và dễ gặp phải biến chứng hơn.

Thậm chí, chỉ mới bị tiền đái tháo đường là đã có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ cao hơn so với những người có lượng đường trong máu khỏe mạnh.

Tại sao đái tháo đường làm tăng nguy cơ đột quỵ?

Bệnh đái tháo đường xảy ra khi cơ thể không thể tạo ra insulin hoặc không thể sử dụng insulin hiệu quả. Vì hormone insulin đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển đường (glucose) từ máu vào tế bào nên khi bị thiếu insulin hoặc insulin được sử dụng kém hiệu quả, lượng đường trong máu sẽ tăng cao.

Theo thời gian, lượng đường dư thừa này có thể góp phần làm hình thành cục máu đông hoặc tích tụ chất béo bên trong các mạch máu vận chuyển máu đến cổ và não. Tình trạng chất béo tích tụ bên trong các mạch máu này được gọi là xơ vữa động mạch.

Các mảng xơ vữa khiến cho lòng mạch máu bị thu hẹp hoặc thậm chí là tắc nghẽn hoàn toàn, dẫn đến gián đoạn lưu thông máu ở não và các tế bào não không được cung cấp máu và oxy.

Điều này sẽ dẫn đến đột quỵ. Nếu không được điều trị kịp thời, đột quỵ sẽ làm hỏng tế bào não vĩnh viễn hoặc thậm chí gây tử vong.

Đột quỵ cũng có thể xảy ra do chảy máu (xuất huyết) trong não.

Có 3 loại đột quỵ chính là:

  • Đột quỵ do thiếu máu cục bộ
  • Đột quỵ xuất huyết não
  • Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ là loại đột quỵ phổ biến nhất, xảy ra khi một động mạch vận chuyển máu giàu oxy cho não bị tắc nghẽn mà thường là do cục máu đông.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), khoảng 87% các ca đột quỵ là đột quỵ do thiếu máu cục bộ.

Đột quỵ xuất huyết não

Đột quỵ xuất huyết não xảy ra khi một động mạch trong não bị rò rỉ máu hoặc bị vỡ. Khoảng 10 đến 20% các ca đột quỵ là đột quỵ xuất huyết não.

Đột quỵ xuất huyết não có nguy cơ dẫn đến biến chứng nghiêm trọng hoặc tử vong cao hơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Những người bị bệnh đái tháo đường có nguy cơ cao bị rò rỉ các mạch máu nhỏ trong não, tình trạng này được gọi là xuất huyết não vi thể.

Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua

Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua còn được gọi là đột quỵ nhẹ hay đột quỵ nhỏ, xảy ra khi lưu lượng máu đến não bị gián đoạn trong một khoảng thời gian ngắn và không dẫn đến tổn thương thần kinh vĩnh viễn.

Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua là một loại đột quỵ do thiếu máu cục bộ, có thể kéo dài từ một phút đến vài giờ hoặc cho đến khi động mạch bị tắc tự thông trở lại.

Theo thống kê, khoảng 15% người bị đột quỵ từng trải qua cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua trước đó. Nếu nhận thấy các dấu hiệu của cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua thì phải gọi cấp cứu hoặc tìm người hỗ trợ ngay lập tức.

Các dấu hiệu nhận biết cơn đột quỵ

Nhận biết các dấu hiệu và triệu chứng của cơn đột quỵ là điều rất quan trọng để điều trị kịp thời. Can thiệp điều trị nhanh chóng khi xảy ra cơn đột quỵ sẽ giúp làm giảm nguy cơ biến chứng nặng.

Các dấu hiệu cảnh báo thường gặp của cơn đột quỵ gồm có:

  • Tê hoặc yếu cơ ở mặt hoặc tay và chân, thường xảy ra ở một bên
  • Đầu óc lú lẫn, mơ hồ
  • Nói năng không rõ ràng
  • khó hiểu lời người khác nói
  • Giảm thị lực ở một hoặc cả hai mắt
  • Chóng mặt
  • Mất thăng bằng hoặc mất điều hòa (mất khả năng phối hợp động tác)
  • Đi lại khó khăn
  • Đau đầu dữ dội không rõ lý do

Những dấu hiệu này xảy ra đến đột ngột.

Nếu nghĩ rằng bản thân sắp bị đột quỵ thì hãy gọi cấp cứu ngay lập tức. Đột quỵ là một tình trạng đe dọa đến tính mạng.

Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ đã đưa ra quy tắc FAST để giúp mọi người nhận biết và hành động kịp thời trong trường hợp xảy ra đột quỵ:

  • F (face – gương mặt): hai bên mặt bị mất cân xứng, một bên mặt bị chảy xệ hoặc cười méo mó do yếu liệt cơ
  • A (arm – cánh tay): cánh tay bị yếu, không thể giơ đều hai tay hoặc một tay không thể cử động
  • S (speech – nói chuyện): một trong những dấu hiệu của đột quỵ là nói năng khó khăn
  • T (time – hành động kịp thời): hãy gọi cấp cứu hoặc nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện gần nhất.

Điều trị đột quỵ

Việc điều trị sẽ tùy thuộc vào loại đột quỵ.

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ

Các phương pháp điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ gồm có:

  • Thuốc tiêu sợi huyết để làm tan cục máu đông và giảm hoặc loại bỏ tắc nghẽn mạch máu
  • Thuốc chống đông máu, chẳng hạn như aspirin
  • Các phương pháp điều trị để ngăn ngừa co giật nếu cần thiết
  • Một số trường hợp cần phẫu thuật để loại bỏ tắc nghẽn mạch máu hoặc đặt stent
  • Các bài tập và phương pháp trị liệu để phục hồi chức năng bị ảnh hưởng, chẳng hạn như nói chuyện hoặc cử động

Đột quỵ xuất huyết não

Các phương pháp điều trị đột quỵ do chảy máu trong não gồm có:

  • Kiểm soát huyết áp, bao gồm cả huyết áp trong não
  • Thuốc chống chảy máu để làm chậm quá trình chảy máu
  • Điều trị động kinh nếu xảy ra
  • Phẫu thuật
  • Theo dõi sau điều trị và phục hồi chức năng

Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua

Không có phương pháp điều trị cụ thể cho cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua nhưng các bác sĩ thường sẽ đưa ra các biện pháp để giảm nguy cơ đột quỵ trong tương lai. Đây là điều rất cần thiết vì theo thống kê, 20% người từng trải qua cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua bị đột quỵ trong vòng 3 tháng sau đó và khoảng một nửa trong số này bị đột quỵ ngay trong vòng 2 ngày sau cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua. (2)

Các lựa chọn điều trị cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua gồm có:

  • Theo dõi nguy cơ đột quỵ
  • Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc statin để giảm nguy cơ hình thành cục máu đông
  • Điều chỉnh chế độ ăn và tập thể dục
  • Kiểm soát huyết áp
  • Một số trường hợp cần phẫu thuật

Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ

Các yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ gồm có:

  • Mắc bệnh đái tháo đường
  • Cao huyết áp
  • Rung nhĩ (một dạng rối loạn nhịp tim)
  • Rối loạn đông máu
  • Cholesterol cao
  • Thiếu máu hồng cầu hình lưỡi liềm
  • Vấn đề về lưu thông máu
  • Bệnh động mạch cảnh
  • Tiền sử nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua trước đây
  • Béo phì
  • Tuổi cao, mặc dù đột quỵ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi
  • Tiền sử gia đình bị đột quỵ
  • Là phụ nữ

Nhiều người bị đái tháo đường còn có các vấn đề sức khỏe khác, chẳng hạn như béo phì hoặc bệnh tim mạch. Những vấn đề này càng làm gia tăng nguy cơ đột quỵ.

Các yếu tố về lối sống có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ gồm có:

  • Chế độ ăn uống kém lành mạnh và không đủ dinh dưỡng
  • Ít hoạt động thể chất
  • Sử dụng thuốc lá
  • Uống quá nhiều rượu bia

Nghiên cứu cho thấy một số nhóm chủng tộc có nguy cơ đột quỵ cao hơn, chẳng hạn như người Mỹ da đen và người gốc Latinh - Tây Ban Nha. Lý do có thể xuất phát từ các yếu tố về kinh tế - xã hội, chẳng hạn như ít có điều kiện tiếp cận đến y tế, giáo dục và nguồn thực phẩm.

Các biện pháp giảm nguy cơ đột quỵ

Không thể phòng tránh đột quỵ một cách hoàn toàn nhưng có thể giảm thiểu nguy cơ bằng các cách dưới đây:

  • Tái khám định kỳ và tuân thủ nghiêm ngặt các phương pháp điều trị đái tháo đường
  • Giải quyết các yếu tố nguy cơ khác của đột quỵ, chẳng hạn như béo phì, tăng huyết áp và cholesterol cao
  • Hạn chế uống rượu bia
  • Bỏ thuốc lá
  • Duy trì chế độ ăn uống thân thiện với bệnh đái tháo đường, chẳng hạn như ăn ít đường và ăn nhiều rau củ quả
  • Tập thể dục thường xuyên

Chế độ ăn uống

Cao huyết áp và cholesterol cao có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Điều chỉnh chế độ ăn uống là một trong những cách hiệu quả để kiểm soát huyết áp và giảm cholesterol.

Dưới đây là một số thay đổi cần thực hiện đối với chế độ ăn uống:

  • Giảm lượng muối và chất béo.
  • Ăn nhiều cá
  • Hạn chế ăn thịt đỏ
  • Hạn chế các loại thực phẩm chứa đường bổ sung
  • Ăn nhiều rau củ quả, đậu và các loại hạt.

Tập thể dục

Tập thể dục cường độ vừa phải 150 phút mỗi tuần như đi bộ nhanh, bơi lội hay đạp xe… có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ và nhiều bệnh khác.

Bỏ thuốc lá

Những người hút thuốc lá có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với những người không hút. Do đó, nếu đang hút thuốc thì hãy bỏ càng sớm càng tốt. Bỏ thuốc sẽ giúp giảm nguy cơ đột quỵ, bất kể đã hút thuốc được bao lâu. Có thể hỏi bác sĩ về các phương pháp hỗ trợ cai thuốc.

Hạn chế rượu bia

Nam giới không nên uống không quá hai đơn vị cồn (20 gram cồn nguyên chất) mỗi ngày và phụ nữ không nên uống quá một đơn vị cồn. 10 gram cồn nguyên chất đương đương 01 cốc bia 330ml (5% cồn), 01 ly rượu vang 100ml (13,5% cồn) hoặc 01 chén rượu mạnh 30ml (40% cồn).

Dùng thuốc theo chỉ định

Một số loại thuốc có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ:

  • Thuốc điều trị cao huyết áp
  • Thuốc điều trị đái tháo đường
  • Thuốc hạ cholesterol (statin)
  • Thuốc chống đông máu, chẳng hạn như aspirin

Khi được kê những loại thuốc này, hãy uống đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Hậu quả của đột quỵ

Hậu quả do đột quỵ phụ thuộc vào các yếu tố như:

  • Loại đột quỵ
  • Mức độ tổn hại
  • Phần não bộ bị ảnh hưởng
  • Thời điểm được điều trị
  • Các bệnh lý khác
  • Các phương pháp phục hồi sau điều trị

Theo CDC, những bệnh nhân được cấp cứu trong vòng 3 giờ kể từ khi bắt đầu có dấu hiệu đột quỵ ít có nguy cơ gặp phải hậu quả nghiêm trọng hơn so với những người được điều trị muộn hơn. (3)

Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua thường không để lại biến chứng nhưng sẽ làm tăng 20% nguy cơ bị đột quỵ trong vòng 3 tháng sau đó.

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc xuất huyết não có thể đe dọa đến tính mạng. Cho dù được cứu sống, bệnh nhân vẫn sẽ có nguy cơ bị suy gỉam các chức năng khác nhau như vận động, suy nghĩ và khả năng ngôn ngữ.

Số liệu thống kê cho thấy rằng ở các quốc gia có thu nhập cao, chẳng hạn như Mỹ, tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày sau khi xảy ra đột quỵ do thiếu máu cục bộ là 15%. Tỷ lệ tử vong do đột quỵ do xuất huyết não là khoảng 25 đến 30%. Ở một số quốc gia, tỷ lệ này có thể lên đến 48%.

Các biến chứng của đột quỵ xuất huyết não gồm có co giật và các vấn đề liên tục với não, phổi và hệ tim mạch.

Bất kỳ ai có dấu hiệu đột quỵ đều cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp. Phải gọi cấp cứu hoặc đưa ngay bệnh nhân đến cơ sở y tế có khả năng điều trị đột quỵ.

Một số câu hỏi thường gặp

Tại sao bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ đột quỵ?

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ tích tụ chất béo hoặc cục máu đông trong mạch máu. Mảng xơ vữa do chất béo và cục máu đông sẽ cản trở sự lưu thông máu mang oxy đến não.

Những người mắc bệnh đái tháo đường còn có nguy cơ bị rò rỉ các mạch máu nhỏ trong não và điều này có thể dẫn đến đột quỵ xuất huyết não.

Đột quỵ do đái tháo đường có những triệu chứng nào?

Các triệu chứng của đột quỵ do đái tháo đường cũng giống như triệu chứng đột quỵ ở người không bị đái tháo đường, gồm có nói năng không rõ ràng, đau đầu đột ngột và dữ dội, yếu cơ hoặc tê ở một bên cơ thể, lú lẫn, chóng mặt, mất thăng bằng và suy giảm thị lực.

Hạ đường huyết có thể gây ra các triệu chứng giống như đột quỵ không?

Hạ đường huyết là khi lượng đường trong máu dưới 70 mg/dL. Hạ đường huyết có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị kịp thời. Những bệnh nhân đái tháo đường đang sử dụng insulin có nguy cơ hạ đường huyết cao hơn.

Các dấu hiệu hạ đường huyết gồm có mơ hồ, không tỉnh táo, đói cồn cào, mệt mỏi, hụt hơi, tim đập nhanh, bồn chồn, co giật và bất tỉnh. Hạ đường huyết cũng có thể gây tê liệt, yếu cơ và các nói năng khó khăn. Những triệu chứng này giống với các dấu hiệu đột quỵ.

Tóm tắt bài viết

Người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn so với những người không mắc bệnh. Ngoài ra, bệnh nhân đái tháo đường còn có nguy cơ bị đột quỵ ở độ tuổi trẻ hơn và dễ gặp phải biến chứng nghiêm trọng hơn.

Khi bị đái tháo đường, cách tốt nhất để giảm thiểu nguy cơ đột quỵ là tuân thủ các phương pháp điều trị để kiểm soát lượng đường trong máu.

Ngoài ra, bất kể có mắc bệnh đái tháo đường hay không thì cũng nên duy trì lối sống lành mạnh để giảm nguy cơ đột quỵ, chẳng hạn như không hút thuốc, hạn chế uống rượu bia và tập thể dục thường xuyên.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
9 quan niệm sai lầm về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường
9 quan niệm sai lầm về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường

Mặc dù đái tháo đường là một bệnh lý phổ biến nhưng không ít người vẫn chưa hiểu đúng về căn bệnh này, dẫn đến những sai lầm trong điều trị bệnh. Một trong những điều mà nhiều người hiểu sai nhất là chế độ ăn uống khi mắc đái tháo đường.

Loét bàn chân ở người bệnh đái tháo đường: Nguyên nhân và điều trị
Loét bàn chân ở người bệnh đái tháo đường: Nguyên nhân và điều trị

Loét bàn chân là một biến chứng phổ biến của bệnh đái tháo đường khi không được kiểm soát tốt bằng các phương pháp như điều chỉnh chế độ ăn, tập thể dục, thuốc đường uống và liệu pháp insulin. Các vết loét hình thành do mô da bị phân hủy và để lộ các lớp mô bên dưới.

Người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ bị đục thủy tinh thể
Người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ bị đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể là một bệnh về mắt phổ biến, có thể xảy ra ở bất kỳ ai, đặc biệt là những người mắc bệnh tiểu đường do đường trong máu cao phá hỏng các mạch máu trong mắt.

Người bị bệnh tiểu đường có được ăn mít không?
Người bị bệnh tiểu đường có được ăn mít không?

Mít là một loại trái cây nhiệt đới có nguồn gốc từ Châu Á nhưng ngày càng trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Mít là loại trái cây lớn với vỏ xù xì màu xanh hoặc nâu và các múi bên trong có màu vàng, vị ngọt. Múi mít có kết cấu dai nên ở một số nơi, loại quả này được những người ăn chay và thuần chay sử dụng thay cho thịt để chế biến món ăn. Tuy nhiên, ăn mít sẽ làm tăng lượng đường trong máu. Vì vậy nên những người bị bệnh tiểu đường cần chú ý trước khi ăn loại quả này.

Xét nghiệm máu lúc đói có thể nguy hiểm cho những người bị tiểu đường
Xét nghiệm máu lúc đói có thể nguy hiểm cho những người bị tiểu đường

Các chuyên gia cho biết có một số điều mà người bị tiểu đường nên thực hiện trước những xét nghiệm này, gồm có điều chỉnh thuốc và ăn nhẹ.

atopalm

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây