1

Viêm tắc động mạch - bệnh viện 103

Đại cương

  • Định nghĩa: Viêm tắc động mạch (VTĐM) là bệnh của hệ thống mạch máu, là viêm nội mạc các động mạch cổ nhũng dấu hiệu của co thắt mạch máu, rối loạn dinh dưỡng và cuối cùng dẫn đến hoại tử cơ quan được nuôi dưỡng tương ứng.
  •  Danh từ “VTĐM” được Winiwarter đề xuất từ cuối thế kỷ XIX và được đa số các tác giả công nhận.
  • Bệnh thường gặp ở nam giới, đa số ở chi dưới, ngoài ra có thể gặp ở nơi khác.

Giải phẫu bệnh

Đại thể:

  • Động mạch lòng hẹp, thành dày, cứng, trắng.
  • Cắt ngang động mạch thấy: lớp cơ nội mạc dày, lòng hẹp có máu cục
  • Đám rối giao cảm quanh động mạch bị thoái hoá,teo và phản ứng liên kết tăng.

Vi thể:

  • Giai đoạn đầu: Xâm nhập nhiều bạch cầu đa nhân, tế bào khổng lồ, có dấu hiệu viêm nhưng không thấy vi trùng
  • Giai đoạn sau: Có hiện tượng hoại tử và xơ hoá.

Lâm sàng

Phương pháp khám bệnh nhân VTĐM

Bắt mạch:

Phương pháp không có giá trị chắc chắn vì:

  • Mạch có thể yếu hoặc tam thời mất do co thắt.
  • Mặt khác các mạch máu nhỏ không bắt mạch được.

Soi mao mạch:

Phương pháp này được nhiều người sử dụng, cho phép định được các giai đoạn của bệnh và hình thái bệnh.

Mục đích: Để đánh giá những biến đổi của tuần hoàn mao mạch.

Đo giao động của mạch máu:

  • Là phương pháp đơn giản, nhanh chóng, có giá trị chẩn đoán khá chính xác tình trạng động mạch và vị trí tổn thương.
  • Lập biểu đồ so sánh hai bên, thường đo ở các vị trí: 1/3 trên và dưới đùi, 1/3 trên và dưới cẳng chân.
  • Đánh giá: Chi bệnh: Tỷ số giao động giảm.

Đo nhiệt độ da:

Nhiệt độ da ở chi bệnh giảm hơn chi lành.

Chụp động mạch cản quang:

Là phương pháp cơ bản để chẩn đoán, cho phép quyrts định phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh. Hiện nay phương pháp này được áp dụng rộng rãi.

Căn cứ kết quả xquang, phân biệt 4 giai đoạn phát triển bệnh:

  •  Giai đoạn 1: Mạch chính bình thường, số lượng động mạch bàng hệ nhiều hơn.
  •  Giai đoạn 2: Mặt trong mạch chính hưi gồ ghề, lòng mạch chỗ đó hẹp hơn.
  •  Giai đoạn 3: Dọc mạch máu có chỗ hẹp, chỗ giãn, có nhiều động mạch bàng hệ cong queo.
  •  Giai đoạn 4: Động mạch chính tắc hoàn toàn.

Điện tâm đồ.

Các xét nghiệm máu.

Triệu chứng.

Bệnh điển hình tiến triển qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn rối loạn chức năng.

  • Biểu hiện sự co thắt mạch các chi khi bị lạnh, đi nhanh, làm việc nặng.
  • Đặc biệt: Đau và “Đi lặc cách hồi” thường đột ngột, đau dữ dội ở bắp chân, cảm giác co rút làm chân phải dừng lại cho hết đau mới đi tiếp được.
  • Mạch mu yếu đôi khi không sờ thấy
  • Triệu chứng “nốt trắng”.
  •  Thường có tê chân ở tư thế nhất định.
  • Cảm giác lạnh bàn chân

Tóm lại: 3 triệu chứng cơ bản: Đi lặc cách hồi và đau, tê chân, lạnh chân.

Giai đoạn rối loạn dinh dưỡng, đau liên tục ( giai đoạn muộn do thiếu máu chi thường xuyên).

  • Đau: Ngoại vi, kéo dài dai dẳng, đau về đêm, đau tăng khi để cao chân, không có phương pháp nào làm giảm đau. Hậu quả là: Căng thẳng mất ngủ, mệt mỏi, giảm trí nhớ, thay đổi tính tình…
  • Rối loạn dinh dưỡng: Da khô, móng dày lệch, viêm mủ dưới móng, xuất hiện loét đầu ngón chân.

Giai đoạn hoại tử (hay hoại thư)

  • Đau tăng thường xuyên, không đi lại được,không chịu nổi.
  • Loét ngón chân, đáy vết loét có hoại tử.
  • Phù tím da lan dần lên bàn chân, mu chân, có những vùng da hoại tử màu đen.
  • Không sờ được mạch, không ghi được giao động đồ.
  • Xquang có hiện tượng xốp các xương bàn chân.
  •   Toàn thân: Suy sụp, gầy xanh, sốt nhẹ 37,5 đến 38 độ, một số có hoại tử khô, bị bội nhiễm thành hoại tử ướt.

Khi đó: Toàn thân suy sụp nhanh, có dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc, cần phải xử lý bằng phẫu thuật.

–  Ba dấu hiệu đe doạ hoại thư – Buerger.

  • Thiếu máu khi nâng cao chi.
  • Góc thiểu năng tuần hoàn.
  • Dấu hiệu ép ngón chân cái.

Chẩn đoán xác định.

Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng.

Điều trị

Mục đích:

  • Làm ắt mạch máu và triệu chứng đau.
  • Điều chỉnh sự bình thường các quá trình phản xạ ảnh hưởng đến tuần hoàn.
  • Tăng tiếp tế máu cho chi bệnh..

Điều trị nội khoa.

Loại bỏ các yếu tố kích thích gây tắc mạch.

Dùng thuốc chống co thắt mạch:

  • Giãn mạch: Achetylcolin, paraverin, iohimbin.
  • Lý liệu pháp: Sưởi ấm, điện nhiệt, liệu pháp, Ionganvanic.
  • Tiêm novocain vào động mạch.

Điều trị ngoại khoa.

Có 3 loại phẫu thuật:

Tác động lên thần kinh giao cảm.

Mục đích: Phá vỡ vòng luẩn quẩn và làm cho mạch giãn.

  • Cắt hạch giao cảm vùng đốt sống thắt lưng III, IV, V. Có thể kết hợp tiêm Novocain vào động mạch.
  • Cắt giao cảm quanh động mạch.
  • ắt hẳn động mạch.

Phẫu thuật phục hồi tuần hoàn.

Mục đích: Cung cấp máu cho phần dưới chỗ tắc.

  • Cắt nội mạch.
  • Cắt ghép mạch.

Phẫu thuật giải quyết bệnh sinh.

Cắt thần kinh tạng hay tuyến thượng thận trên cơ sở thuyết: Kích thích tăng tiết Adrenalin làm co mạch.

Cắt cụt chi bệnh (Bắt buộc).

Chỉ định giai đoạn hoại thư.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Tin liên quan
Tại sao các vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp hơn?
Tại sao các vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp hơn?

Nhịp tim lúc nghỉ ngơi trung bình thường dao động từ 60 đến 80 bpm, tuy nhiên, một số vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp đến 30-40 bpm. Nếu bạn là vận động viên hoặc là người thường xuyên tập thể dục, nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp thường không là vấn đề, thậm chí còn là biểu hiện cho trạng thái sức khỏe tốt. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy nhịp tim thấp đi kèm với các triệu chứng khác, như mệt mỏi hoặc chóng mặt.

Tại sao vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn?
Tại sao vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn?

Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi được xác định chính xác nhất khi ngồi hoặc nằm và ở trạng thái bình tĩnh. Nhịp tim khi nghỉ ngơi trung bình dao động trong khoảng 60 đến 80 nhịp mỗi phút. Vận động viên các môn thể thao sức bền thường có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn so với người bình thường. Một số vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi chỉ 30 đến 40 nhịp mỗi phút.

Phân biệt lóc tách động mạch chủ và phình động mạch chủ
Phân biệt lóc tách động mạch chủ và phình động mạch chủ

Phình động mạch chủ (aortic aneurysm) là khi thành động mạch chủ bị yếu, giãn ra và phình lên. Lóc tách động mạch chủ (aortic dissection) là khi lớp bên trong của thành động mạch chủ bị rách. Tình trạng này có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Động mạch có vai trò gì? Có những loại động mạch nào?
Động mạch có vai trò gì? Có những loại động mạch nào?

Hệ tuần hoàn gồm ba loại mạch máu: động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Động mạch mang máu từ tim trong khi tĩnh mạch mang máu đến tim.

Viêm động mạch Takayasu điều trị bằng cách nào?
Viêm động mạch Takayasu điều trị bằng cách nào?

Viêm động mạch Takayasu (Takayasu's arteritis) là một loại viêm mạch máu hiếm gặp, xảy ra ở động mạch chủ (động mạch lớn mang máu từ tim đến phần còn lại của cơ thể) và các nhánh chính của động mạch chủ.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây