Ứng dụng công nghệ Plasma điều trị một số bệnh da liễu - bệnh viện 103
1. Đại cương
Máy dựa trên nguyên lý tạo Plasma bằng cao áp cao tần (trên 1MHz), nâng nhiệt độ ở vùng tiếp xúc từ 500oC tới 3000oC làm bốc bay tức thời các tổ chức giúp cho phẫu thuật cắt, bốc bay, đốt, quang đông, cầm máu có hiệu quả cao. Xét một phương diện nào đó, trong một số trường hợp, việc xử lý bằng Plasma sẽ thuận lợi hơn nếu như sử dụng bằng Dao mổ điện hay laser.
Máy còn có thể được sử dụng để hàn gắn các mạch máu.
Máy được sử dụng phần lớn cho tiểu phẫu thuật, trung phẫu thuật và trong chuyên khoa thẩm mỹ, da liễu….
- Với hệ thống kim phẫu thuật đa dạng, bác sĩ có thể dễ đàng sử dụng phù hợp cho từng ca phẫu thuật khác nhau.
- Ba chế độ lựa chọn xung, hai chế độ phát Plasma, giúp bác sĩ lựa chọn tối ưu chế độ phẫu thuật.
- Thiết bị là sản phẩm dự án độc lập cấp nhà nước năm 2001, được chế tạo với công nghệ cao, bền vững, chắc chắn, mẫu mã đẹp. Thuận tiện cho sử dụng cố định hay di động (bảo hành 3 năm, tuổi thọ trên 20 năm). Đã triển khai trên phạm vi toàn quốc ( trung ương, địa phương, tuyến tỉnh, huyện, xã, phòng khám nhà nước hay tư nhân ).
- Giá thành thấp. ứng dụng trong nhiều chuyên khoa
2. Thông số kỹ thuật
- Điện áp nguồn: 220VAC ± 10%- tần số 50 Hz
- Công suất tiêu thụ: 400W
- Công suất phát Plasma : P = 0 ¸100W
- Dạng sóng phát: Hình sin
- Tần số sóng phát : ≥ 1MHz
- Độ méo sóng phát: D £ 1%
- Chế độ làm việc: liên tục – xung đơn – xung chuỗi
- Thời gian phát xung: tW = 0,1¸1s
- Thời gian nghỉ xung: tP = 0,1¸ 0,5
Chế độ phẫu thuật:
- Đơn cực/Mono: -Cắt (Cutting), đốt, bốc bay
- Cầm máu ( Coagulation), quang đông
- Song cực/Bipo: -Cầm máu kẹp (Bipolar)
- Cầm máu điểm (Monopolar)
3. Chống chỉ định
Phụ nữ có thai, trong thời kỳ kinh nguyệt. Bệnh tim mạch cấp tính. Bệnh chảy máu kéo dài do yếu tố đông máu
4. Thao tác sử dụng
- Vặn vỏ nhựa ở cán điện cực ra, vặn vỏ kim loại ở bên trong ra, cắm điện cực đó lựa chọn chế độ (cắt hoặc đốt) vào rồi theo thứ tự vặn vỏ kim loại, vỏ nhựa vào.
- Cắm dây dẫn điện của cán điện cực vào lỗ cắm của máy.
- Cắm dây nguồn của máy vào ổ điện 220V
- Bật công tắt nguồn, đèn báo sáng, nghe thấy tiếng quạt gió làm mát bên trong máy.
- Xoay núm điều chỉnh bảng điện áp báo từ thấp đến cao, chỉ số điện áp lớn thỡ cụng suất đưa ra điều trị lớn và ngược lại.
- Căn cứ vào nhu cầu phẫu thuật, bật công tắt MODE SELECTION sang nấc CUTTING (cắt) hoặc nấc COAGULATING (đốt).
- Tùy thuộc tính chất vị trí mô, tổ chức sinh học có thể sử dụng bàn đạp chân hoặc không. Khi sử dụng công tắc bàn đạp chân, cắm phích bàn đạp chân vào lỗ cắm tương ứng của máy.
Khi không đạp bàn đạp, đồng hồ báo điện áp chỉ giá trị ~0 V, đầu điện cực không có điện áp. Khi đạp công tắc bàn đạp xuống, chỉ thị điện áp hoạt động, đầu điện cực có điện. Khi không cần sử dụng bàn đạp chân để khống chế, rút phích cắm bàn đạp, đầu điện cực ra luôn luôn có điện áp làm việc (phải chú ý cẩn thận). Khi đưa đầu điện cực vào gần tổ chức sẽ xuất hiện dòng Plasma.
5. Một số kỹ thuật điều trị bệnh bằng Thiết bị phẫu thuật plasma
5.1 Một số kỹ thuật điều trị bệnh lý ở da:
Nốt ruồi, u treo da, u tuyến bã…
Sát khuẩn bằng cồn 70o, gây tê tại chỗ bằng Xylocain 1 – 3%. Đối với những trường hợp vùng bệnh nông, khả năng bệnh nhân chịu đau tốt có thể không cần gây tê, trong khi điều trị dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái vê xoa xung quanh vùng bệnh để giảm cảm giác đau. Tuỳ theo nốt ruồi, u ở sâu hay nông diện tích nhỏ hay to cần cắt hay bóc bay mà đặt điện thế sử dụng ở chế độ cắt (cutting) hay cầm máu và bóc bay (coagulation) cho thích hợp.
Nếu vùng bệnh nông, lan rộng dễ chảy máu thì dùng chế độ coagulation để bóc bay và cầm máu. Vùng bệnh ít chảy máu, ở sâu trong da, nhỏ thì dùng chế độ cutting .
Có thể trong lúc điều trị một tổn thương ta dùng cả hai chế độ như : Dùng chế độ cắt, sau khi lau sạch lớp Cacbon hoá thấy tổn thương bị chảy máu thì chuyển chế độ cầm máu…Tuỳ theo tổn thương bệnh mà chọn điện thế điều trị từ 0 – 15V. Đặt các chế độ điều trị xong, đa điện cực tiếp xúc nhẹ vào vùng bệnh, tại chỗ tiếp xúc tổ chức sẽ bị cắt hay bóc bay.
Căn cứ mục đích điều trị sau mỗi lần bóc bay hay cắt, dùng tăm bông tẩm nước muối sinh lý lau hết phần than cacbon hoá để quan sát phần bệnh đã hết hay chưa để sử lý tiếp. Khi cắt hoặc bóc bay liên tục, tầng cacbon hoá tại tổn thương dày quá, không có dịch của tổ chức tiết ra đầu điện cực tiếp xúc không sinh dòng Plasma thì lấy bông thấm nớc muối sinh lý lau nhẹ hoặc thấm ớt vào tổn thương và điều trị tiếp. Đạt kết quả điều trị là tổn thương đã hết, không cần phải lau, mặt vết thương để lại màng mỏng cacbon hoá lần cuối cùng điều trị có tác dụng bảo vệ vết thương và tạo vảy sau 7 – 10 ngày tự bong ra. Nếu vùng bệnh có diện tích lớn, ở sâu thì chọn phương pháp điều trị nhiều lần, mỗi lần điều trị một điểm có bán kính khoảng 1 – 2 mm, khoảng cách giữa các điểm của mỗi lần điều trị cách nhau 1mm để chống gây sẹo xấu.
Sự hình thành màu sắc tổn thương sau điều trị : Đối với những trường hợp khi điều trị da bị bỏng độ hai trở lên, trên 80% xuất hiện sắc tố khác với màu da tạm thời, thường sau 1 – 6 tháng sẽ mất đi và da tại chỗ đó lại trở lại bình thường. Cá biệt có một số trường hợp do bệnh nội tiết mà vùng sắt tố bị mất đi trong thời gian dài hơn. Để cho vảy tại chỗ tổn thương bong ra tự nhiên, sau điều trị một tháng không được phơi nắng hoặc bôi các loại kem trang điểm.
Tàn nhang và mảng sắc tố ở người già
Sát trùng gây tê bình thường, sử dụng chế độ bóc bay, điện thế điều trị 6 – 8V. Dùng đầu điện cực nhẵn bóc bay tạo thành vòng tròn phía ngoài tổn thương trước, sau đó chạm nhẹ đầu điện cực theo kiểu tô hoặc quét lên bề mặt tàn nhang hay bề mằt sắc tố ở phía bên trong vòng tròn, thấy vùng điều trị đổi sang màu vàng sẫm là được, không cần phải lau sạch lớp cacbon hoá. Sau điều trị lớp cacbon hoá tự kết thành vảy và bong ra, hai tháng sau khi điều trị không được bôi các hoá phẩm trang điểm.
Nốt ruồi son
Sát trùng, gây tê bình thường. Sử dụng chế độ cắt, điện thế 6 – 10V, đầu điện cực nhỏ châm vào giữa nốt ruồi son, độ sâu hết tổn thương, thấy vùng xung quanh mất màu là đạt kết quả.
U máu nhỏ không lan toả
Sát trùng, gây tê bình thường. Sử dụng chế độ bóc bay, điện thế 6 – 12V, hoá hơi dần dần, nếu thấy có máu chảy thì đa đầu điện cực ra xa hơn một chút làm cho dòng Plasma lớn hơn quang đông cầm máu, sau đó tiếp tục điều trị vị trí khác.
Dãn mao mạch.
Sát trùng, gây tê. Sử dụng chế độ cắt, điện thế 6 – 10V. Dùng điện cực nhỏ, đầu nhọn cắm vào mao mạch bị dãn, thấy một đoạn mạch bị dãn từ 2 – 4 mm mất đi hay nhỏ lại thì rút điện cực ra, theo hớng đi của mạch lần lợt châm đầu điện cực vào mỗi vị trí cách vị trí điều trị trước là 4mm đến khi mao mạch dãn mất đi hoàn toàn thì kết thúc điều trị.
Hôi nách
Dùng kéo cắt bỏ lông nách để lại phần gốc 2mm, sát trùng, gây tê. Tuỳ theo độ dày của da điều chỉnh điện thế 8 – 13V, sử dụng chế độ cắt, đầu điện cực nhỏ, nhọn. Chọc kim vào phần gốc theo hướng đi của lông nách lần lượt phá từng chân lông, độ sâu kim chọc vào khoảng 2 – 4mm, tốc độ chọc và thời gian dừng kim sau khi chọc vào cần đủ để làm xơ hoá lỗ chân lông. Không nên làm bỏng quá rộng để giảm bớt sự nhiễm trùng. Đối với những người ít lông nách, cần phá những mụn mẩn nhỏ giống như nốt da sần ở phần hốc nách. Kết quả điều trị phụ thuộc vào kỹ thuật làm xơ hoá chân lông quyết định. Sau điều trị cần băng tổn thương bằng gạc mỏng, sau 3 ngày tháo gạc và để thoáng, kết hợp điều trị kháng sinh toàn thân.
Sùi mào gà
Sát trùng, gây tê bình thường, Đối với vùng niêm mạc có thể dùng Xylocain thấm bề mặt. Sử dụng chế độ cắt hay bóc bay tuỳ tổn thương, dùng điện áp 12 – 15 V lần lợt bóc bay từng phần của vùng bệnh, nên bóc bay quá phần bệnh 0,2 mm. Đối với tầng cacbon hoá trên bề mặt tổn thương sau khi bóc bay không nên lau đi, sau phẫu thuật có thể bôi một ít cồn iod 2% để diệt nốt tế bào vi rút u còn sót lại, đợi khô bôi thuốc tím vào tổn thương, kết hợp với kháng sinh toàn thân.
5.2 Một số kỹ thuật có thể sử dụng điều trị trong chuyên nghành Tai – mũi – họng và Răng miệng.
Viêm phì đại cuốn mũi.
Sát trùng gây tê theo phương pháp thông thường . Chọn điện cực cách điện độ dài thích hợp, uốn cong đầu điện cực phù hợp với cuốn mũi. Sử dụng chế độ coagulation điện áp 13 – 15V, dùng công tắc bàn đạp chân. Trước khi điều trị dặn bệnh nhân tập hít khí bằng miệng thở ra bằng mũi để tránh hít khói vào phổi gây cảm giác khó chịu. Đặt ngón út tay phải dưới cạnh mũi người bệnh để cố định cổ tay, đặt sát điện cực vào cuốn mũi và nhấn bàn đạp.
Khi điều trị cần điều khiển tốt bàn đạp, nếu người bệnh giật mình hoặc cựa quậy thì nhả bàn đạp để tránh làm tổn thương tổ chức lành.
Có hai cách điều trị:
- Khí hoá trực tiếp, có thể hướng từ mép dưới lên trên hoặc từ mép trước ra sau, bóc bay đến sát xuống cuốn mũi dưới là được.
- Uốn cong đoạn đầu điện cực khoảng 90o, khí hoá niêm mạc cuốn mũi dưới bị dày, cương tụ thành kiểu tổ ong, độ sâu bằng 2/3 độ dày xuống cuốn mũi dưới là được. Sau khi đốt dùng mét đặt theo phương pháp thông thường, dặn người bệnh một tuần không lau mũi để tránh chảy máu. Sau 10 đến 15 ngày là khỏi.Sau điều trị có nhiều dịch tiết ở xoang mũi gây bị tắc, cần phải lấy ra từ từ.
U gai, polip mũi.
Cách chữa và xử lý sau phẫu thuật giống như trên. Nếu chảy máu thì dùng chế độ coagulation công suất vừa phải, thao tác cẩn thận, đúng kỹ thuật.
Viêm xoang
Dùng bông có nhúng Ephedrrin 1% và bông Dicaine 2% đặt dưới đường mũi gây tê bề mặt niêm mạc và làm co nhỏ cuốn mũi. Lấy kim chọc xoang lồng vào ống cao su tiến hành chọc rửa theo phương pháp thông thường. Rửa xong dùng xylanh bơm vào xoang một lợng không khí thích hợp để đẩy hết dịch thể trong khoang mũi ra ngoài.
Sử dụng chế độ đốt điện áp 15V. Cắm điện cực vào kim chọc, vê kim chọc, đốt nóng lỗ hốc xoang, khi nghe thấy tiếng “chít chít” là đợc. Sau đó rút kim chọc ra, sử lý sau phẫu thuật giống như chọc xoang thông thường. Dùng Dicaine 2% gây tê phần họng, sử dụng chế độ điện áp 9 – 12V dùng bàn đạp để khống chế khí hoá các hạt limpho. Sau điều trị xúc miệng bằng dung dịch Furacilline 1/5000 500ml từ 7 – 8 lần trong 1 ngày.
Chảy máu chân răng, lợi chùm.
Sát trùng gây tê theo phương pháp thông thường. Vùng chảy máu thì dùng chế độ coagulation , ngược lại cắt lợi trùm và vùng ít chảy máu thì dùng chế độ cutting, điện áp 10 – 12V. Khí hoá chỗ chảy máu hoặc đốt lợi trùm đến khi sâu hơn mặt bằng mô của lợi bình thường 0,2mm là được.
5.3 Một số kỹ thuật có thể sử dụng trong nghành ngoại khoa
+ Cắt các tổ chức
Sử dụng chế độ cắt, điều chỉnh điện áp khoảng 15V, cắt trên panh kẹp tổ chức tổn thương, tốc độ cắt không nên quá nhanh, nếu cắt tự do không vượt quá sâu qua 10mm.
+ Rò hậu môn trực tràng
Sát trùng, gây tê, dùng kim chọc rò tìm đường đi của lỗ rò theo phương pháp thông thường. Sử dụng chế độ cắt, điện áp 13 – 15V cắt theo hướng đường rò, khí hoá chỗ rò. Kết hợp điều trị kháng sinh toàn thân, sau khi đại tiện rửa và thay thuốc tổn thương theo phương pháp thông thường, sau 2 tuần thì khỏi bệnh.
+ Trĩ ngoại
Sát trùng gây tê theo phương pháp thông thường. Dùng kìm kẹp máu kẹp chặt gốc búi trĩ, sử dụng chế độ cắt, điện thế 15V men theo mép trên của kìm kẹp, cắt bỏ phần trĩ, sau đó nới lỏng kìm cầm máu, khí hoá phần gốc búi trĩ. Kết hợp điều trị kháng sinh toàn thân, sau khi đại tiện rửa và thay thuốc tổn thương theo phương pháp thông thường, sau 2 tuần thì khỏi bệnh.
+ Trĩ nội:
Sát trùng gây tê theo phương pháp thông thường. Dùng kìm kẹp máu kẹp chặt gốc búi trĩ, sử dụng chế độ cắt, điện thế 15V men theo mép trên của kìm kẹp, cắt bỏ phần trĩ, ở mép dới kìm kẹp máu dùng chỉ khâu hình số tám, sau phẫu thuật bơm metylen vào gốc búi trĩ đã cắt. Số búi trĩ cắt bỏ mỗi lần không quá 3 búi. Sau khi phẫu thuật đặt gạc vào hậu môn trong 24 tiếng. Kết hợp điều trị kháng sinh toàn thân, sau khi đại tiện rửa và thay thuốc tổn thương theo phương pháp thông thờng, sau 2 tuần thì khỏi bệnh.
+ Polip trực tràng
Sát trùng gây tê theo phương pháp thông thường . Dùng panh kẹp gốc polip, sử dụng chế độ cắt, điện thế 15V cắt bỏ polip trên panh kẹp. Bỏ panh ra, khí hoá phần gốc polip sâu hơn niêm mạc hậu môn bình thường 0,5mm là đạt. Đối với polip không có gốc, dùng chế độ bóc bay bó trực tiếp.
+ Kỹ thuật cầm máu
Khi điều trị chảy máu ở vùng mao mạch hoặc mạch máu nhỏ, phải lau sạch máu, nhanh chóng sử dụng chế độ coagulation để cầm maú. Với mạch máu tương đối lớn phải dùng panh kẹp chặt, sử dụng chế độ coagulation điện áp 15V, khí hoá phần panh cầm máu.
5.4 Một số kỹ thuật có thể sử dụng trong chuyên nghành Phụ khoa:
+ Viêm lộ tuyến cổ tử cung, polip cổ tử cung.
- Dùng chế độ coagulation điện thế 15V, dùng bàn đạp chân, sử dụng đầu điện cực cách điện dài, uốn đoạn trước thành hình tròn. Sát trùng gây tê theo phương pháp thông thường .
- Khí hoá tổn thương cách niêm mạc bình thường 2mm, nên tiến hành từ dới lên trên, làm dần từng bên. Nếu nh có chảy máu thì dừng lại, lau sạch máu và cầm máu. Tốc độ khí hoá phải đều đặn và giữ đúng cự li đầu điện cực tiếp xúc với chỗ tổn thương.
Nếu là polip cổ tử cung thì khí hoá thật kỹ phần gốc cuống polip. Sau điều trị một tháng kiêng sinh hoạt tìng dục. Sau 15 ngày kiểm tra lại, nếu cha khỏi thì điều trị lần hai.
Nguồn: Bệnh viện 103
Bên cạnh các tác dụng đối với sức khỏe tổng thể, củ nghệ và curcumin còn có lợi cho làn da.
Lăn kim vi điểm hiện đang là một liệu pháp làm đẹp được rất nhiều người biết đến và lựa chọn. Phương pháp này được thực hiện tại các spa nhưng nếu biết cách thì hoàn toàn có thể tự làm tại nhà. Nếu bạn đang có ý định lăn kim thì trước tiên nên dành một chút thời gian tìm hiểu về cơ chế, cách lựa chọn dụng cụ, các bước thực hiện và lưu ý về chăm sóc da sau lăn kim.
Mặc dù không thể chữa trị dứt điểm nhưng dầu dừa có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh viêm da cơ địa một cách hiệu quả bằng cách làm dịu da, giảm kích ứng và giảm nguy cơ nhiễm trùng.
Nhiều trẻ sơ sinh có những mảng dày cứng, màu vàng hoặc trắng giống như vảy trên da đầu. Những mảng này có thể xuất hiện ở bên dưới tóc, sau tai, trên trán, quanh nếp gấp da hoặc trên lông mày. Đó có thể là những dấu hiệu của viêm da tiết bã. Vấn đề này tuy vô hại nhưng nhìn rất khó chịu. Có nhiều cách để điều trị viêm da tiết bã ở trẻ sơ sinh và một trong số đó là sử dụng dầu dừa.
Dầu dừa là được sử dụng phổ biến trong nấu ăn và ngoài ra còn là một thành phần quen thuộc trong làm đẹp. Dầu dừa có thể được dùng để dưỡng da, dưỡng tóc, dưỡng mi và còn có thể giúp điều trị các vấn đề về da như bệnh vảy nến.





