Triệu chứng lâm sàng của bệnh Parkinson
1. Các triệu chứng vận động
Bốn triệu chứng vận động chính của bệnh Parkinson là run, cứng cơ, chậm động, và mất ổn định tư thế, như được xác định bằng chữ viết tắt TRAP (tremor, rigidity, akinesia (or bradykinesia), và postural instability) (Bảng 1-1). Các triệu chứng vận động thứ phát bao gồm giảm đung đưa tay, giảm tần số chớp mắt, vẻ mặt như đeo mặt nạ (hypomimia), giảm âm lượng giọng nói (hypophonia – nói thều thào), và khó trở mình trên giường.
Run ý nói đến dao động thành nhịp quanh một điểm cố định trong khi nghỉ hoặc vị trí không tư thế. Run thường là triệu chứng vận động đầu tiên của bệnh Parkinson và gặp ở khoảng 90% bệnh nhân ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ. Trong khi run của bệnh Parkinson điển hình là run khi nghỉ, 50% bệnh nhân cũng có thể biểu hiện với một triệu chứng run có thể xuất hiện lại khi giang hai tay. Run khởi đầu không đối xứng và đặc trưng là kiểu sấp và ngửa, hoặc lăn bóng, cuối cùng ảnh hưởng đến phía đối diện của cơ thể. Run có thể kém đáp ứng với điều trị dược lý, trong đó có levodopa.
Cứng cơ ý nói cứng hoặc sự kháng của một chi khi nó được gấp thụ động, hoạt hóa cả các cơ chủ vận và đối vận, và cũng có thể được gọi là bánh xe răng cưa. Chậm động nghĩa là cử động chậm chạp (không động ý nói không cử động) và có thể xảy ra cả trong lúc khởi đầu và khi duy trì cử động.
Mất ổn định tư thế, hoặc rối loạn chức năng thăng bằng, xuất hiện sau trong quá trình bệnh, khoảng một thập kỷ sau chẩn đoán ban đầu. Mất ổn định tư thế có tương quan với độ nặng của bệnh và được thể hiện bằng test kéo. Đó là một triệu chứng kháng levodopa, trái với chậm động, cứng cơ và run. Mất ổn định tư thế là một nguyên nhân chính của ngã, gây ra gãy xương vùng hông, mất sự độc lập, và phải điều dưỡng tại nhà đối với bệnh nhân.
Bảng 1-1: Các triệu chứng trước vận động, vận động và không vận động của bệnh Parkinson
| Các triệu chứng trước vận động | Táo bón Mất khứu giác Rối loạn hành vi trong giấc ngủ động mắt nhanh (REM) Trầm cảm |
| Các triệu chứng không vận động: Tâm thần kinh | Trầm cảm Lo âu (rối loạn cảm xúc) Thờ ơ, lãnh cảm Rối loạn kiểm soát ham muốn Loạn thần Mất khoái cảm Ảo giác Mất ý chí Rối loạn giảm chú ý Các cơn hoảng sợ |
| Các triệu chứng không vận động: Nhận thức | Rối loạn chức năng điều hành Mất trí nhớ Sa sút trí tuệ |
| Các triệu chứng không vận động: Thần kinh tự động | Hạ huyết áp tư thế Táo bón Mất kiềm chế đại tiện Buồn nôn Nôn Chảy nước mũi, chảy nước dãi Mất kiềm chế tiểu tiện và tiểu gấp Rối loạn tình dục Thay đổi phản xạ tim Rối loạn chức năng khứu giác Rối loạn chức năng dạ dày ruột Tăng tiết mồ hôi Khó nuốt |
| Các triệu chứng không vận động: Rối loạn giấc ngủ | Mất ngủ Buồn ngủ Buồn ngủ ngày quá mức Hội chứng chân không yên Các cơn ngủ Cử động chi có chu kỳ trong giấc ngủ Rối loạn hành vi trong giấc ngủ REM Giấc mơ sống động |
| Các triệu chứng không vận động: Bất thường cảm giác | Mất khứu giác Đau Mất vị giác Tê Dị cảm |
| Các triệu chứng vận động chính | Run Cứng cơ Chậm động (hoặc không động) Mất ổn định tư thế Rối loạn dáng đi |
Các thuật ngữ khác liên quan đến các triệu chứng bệnh Parkinson bao gồm loạn động, cũng gọi là loạn động do levodopa, nói đến các cử động bất thường, tự ý, dạng múa giật có thể ở các chi, đầu, và thân mình. Loạn động do levodopa cũng có thể biểu hiện với múa vung, giật cơ, loạn trương lực, hoặc một sự kết hợp của các cử động này. Loạn động do levodopa có thể được phân loại sâu hơn là loạn động liều đỉnh, loạn động thời gian off hay wearing-off, hoặc loạn động hai pha. Loạn động hai pha bắt đầu ngay sau uống levodopa, tiếp theo là cải thiện các triệu chứng Parkinson và cải thiện loạn động và sau đó là sự trở lại của loạn động khi nồng độ dopamine giảm.
Loạn trương lực nói đến các co cơ tự ý, trong thời gian dài với các tư thế bất thường, thường ở các chi. Loạn trương lực thường xảy ra cùng với thời điểm nồng độ dopamine thấp, thường trong những giờ buổi sáng sớm. Bệnh nhân có thể xoắn ngón chân hoặc đảo ngược bàn chân do gấp mu chân hoặc gấp gan chân, có thể dẫn đến chuột rút hoặc đau chân. Loạn trương lực cũng có thể xảy ra ở liều đỉnh, hai pha, hoặc trạng thái “off”.
Dao động vận động nói đến thời gian “off”, khi đáp ứng kém với levodopa, xen kẽ với thời gian “on”, tức thời gian cải thiện chức năng. Các dao động vận động xảy ra khi bệnh tiến triển nặng, có thể vì kích thích dao động từ levodopa lên các receptor sau synap. Các khoảng thời gian off có thể dự đoán được, trong đó các triệu chứng nổi lên trước liều tiếp theo, hoặc có thể không dự đoán được. Liều thất bại (dose failure) ý nói levodopa có hiệu quả lâm sàng chậm. Đóng băng được mô tả bởi Giladi và Nieuwboer là “một sự bất lực từng cơn (kéo dài vài giây) rồi xuất hiện các bước đi hiệu quả mà không có nguyên nhân nào khác được biết ngoài hội chứng Parkinson hoặc các rối loạn dáng đi mức độ nặng. Điều này hay gặp nhất trong khi xoay người và bắt đầu bước đi nhưng cũng có thể gặp khi bị nhốt trong không gian hẹp, khi stress, và khi xao nhãng”. Bệnh nhân cảm thấy rằng bàn chân của họ bị gắn keo vào mặt đất, và cảm giác này về cơ bản thường là từng cơn.
2. Các triệu chứng không vận động
Trong 20 năm qua, chúng ta đã có hiểu biết ngày càng tăng về tầm quan trọng của các triệu chứng không vận động (nghĩa là, các triệu chứng khác ngoài những triệu chứng liên quan đến vận động, như run, cứng cơ, và chậm động) trong chẩn đoán và điều trị bệnh Parkinson. Ước tính rằng gần như tất cả bệnh nhân Parkinson sẽ có một số các triệu chứng không vận động kèm theo trong suốt quá trình bệnh. Tác động từ các triệu chứng không vận động thường lớn hơn các triệu chứng vận động; nhưng không may, các triệu chứng không vận động thường không được phát hiện. Các triệu chứng không vận động của bệnh Parkinson được liệt kê dưới đây và ở trong Bảng 1-1.
- Các triệu chứng không vận động tâm thần kinh bao gồm trầm cảm, lãnh cảm, thờ ơ, rối loạn kiểm soát ham muốn, lo âu, loạn thần, ảo giác, rối loạn cảm xúc, mất ý chí.
- Các triệu chứng không vận động nhận thức bao gồm rối loạn chức năng điều hành, mất trí nhớ và sa sút trí tuệ.
- Rối loạn thần kinh tự động bao gồm hạ huyết áp tư thế, táo bón, tiểu không tự chủ, rối loạn chức năng tình dục, thay đổi các phản xạ tim, rối loạn chức năng khứu giác, rối loạn chức năng dạ dày ruột, và đổ mồ hôi.
- Rối loạn giấc ngủ bao gồm mất ngủ, buồn ngủ, buồn ngủ quá mức vào ban ngày, hội chứng chân không yên, các cơn ngủ, cử động chi có chu kỳ trong giấc ngủ, và rối loạn hành vi trong giấc ngủ động mắt nhanh (REM).
- Các bất thường cảm giác bao gồm đau, tê bì, mệt mỏi, và giảm khứu giác.
Các triệu chứng không vận động cũng có thể dao động. Trong những giai đoạn off, bệnh nhân có thể tồi hơn về cảm xúc, lo âu, rối loạn thần kinh tự động bao gồm vã mồ hôi và thân nhiệt không đều, đau/tê bì, và các triệu chứng khác. Các triệu chứng không vận động trong các giai đoạn on có thể bao gồm hưng cảm, kích động, hoang tưởng, ám ảnh, và bốc đồng.
3. Các triệu chứng trước vận động
Các triệu chứng trước vận động được định nghĩa là các triệu chứng xuất hiện trước các triệu chứng vận động của bệnh Parkinson và bao gồm táo bón, mất khứu giác, rối loạn hành vi trong giấc ngủ REM, và trầm cảm (Bảng 1-1).
Nguồn tài liệu:
Theresa A. Zesiewicz. Parkinson Disease. Continuum (Minneap Minn) 2019;25(4, Movement Disorders): 896-918.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.
Nếu bạn đang phải khổ sở vì những đêm trằn trọc mất ngủ thì việc ngủ được ngay chỉ sau vài phút nằm xuống giường quả là một niềm mơ ước. Tuy nhiên, thật sự có những cách giúp bạn có thể chìm vào giấc ngủ chỉ sau 120, 60 hoặc thậm chí là 10 giây.





