Tìm hiểu một số bệnh đau đầu thường gặp và cách xử trí- Bệnh Viện Việt Đức
Nguyên nhân đau đầu
Có nhiều nguyên nhân gây ra đau đầu. Bảng phân loại đau đầu quốc tế chia đau đầu thành 3 nhóm khác chính:
- Đau đầu nguyên phát: thường không rõ căn nguyên
- Đau đầu thứ phát
- Đau thần kinh sọ, đau thần kinh mặt và các chứng đau đầu khác
Migraine và đau đầu do căng thẳng là hai bệnh đau đầu gặp phổ biến trong nhóm đau đầu nguyên phát. Bệnh không nguy hiểm nhưng nhưng nó khiến chất lượng cuộc sống giảm sút, ảnh hưởng đến mọi hoạt động hàng ngày và tinh thần của bệnh nhân.
Migraine: Là tên gọi xuất phát từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là nửa đầu. Do đó migraine được hiểu là chứng đau nửa đầu.
Cho đến nay, nguyên nhân của migraine chưa được biết rõ nhưng người ta thấy có một số yếu tố khởi phát liên quan đến sự xuất hiện của migraine như: căng thẳng, thiếu ngủ, thay đổi nội tiết ở phụ nữ , thay đổi thời tiết, chế độ ăn nhiều đồ ngọt…
Triệu chứng
Có hai loại migraine:
Migraine không có triệu chứng báo trước:
Biểu hiện là các cơn đau nửa đầu theo nhịp đập của mạch và nặng lên khi hoạt động, nên bệnh nhân thường thích nằm trong buồng tối yên tĩnh.
Triệu chứng kèm theo có thể là buồn nôn và nôn,và nhạy cảm với ánh sáng, tiếng ồn.
Cơn đau thường kéo dài từ vài giờ tới vài ngày và để lại cảm giác ê ẩm trong đầu sau đó.
Migraine có triệu chứng báo trước:
Thường khởi đầu bằng những triệu chứng thần kinh khu trú ở vỏ não hoặc thùy não rồi phát triển dần dần trong 5-20 phút, kéo dài ít hơn 60 phút, tiếp sau đó là cơn đau nửa đầu giống như cơn migraine không có triệu chứng báo trước.
Triệu chứng báo trước có thể là rối loạn thị lực cùng bên đau, có cảm giác như kiến đốt, kim châm, yếu nửa người, nói khó hoặc mất ngôn ngữ…
Các triệu chứng kéo dài dưới 60 phút và bệnh nhân sẽ hồi phục hoàn toàn; đây là điểm khác biệt lớn nhất để phân biệt với những chứng đau đầu khác.
Điều trị Migrane
Điều trị migraine bao gồm điều trị cắt cơn và điều trị phòng ngừa.
Điều trị cắt cơn:
Bằng các thuốc giảm đau thông thường đối với cơn đau ở mức độ vừa như paracetamol, các thuốc giảm đau non – steroid, bằng các thuốc đặc trị hơn như các triptans đối với các cơn đau nặng.
Điều trị dự phòng:
Đặt ra khi tần suất cơn đau đầu xảy ra thường xuyên ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày.
Các thuốc điều trị dự phòng bao gồm:
- Thuốc chống động kinh (Valproat, Topiramate)
- Thuốc chẹn beta (propranolol)
- Chẹn kênh calci (flunarizine
- Thuốc chống trầm cảm (amitriptyline),…
Ngoài điều trị phòng ngừa bằng thuốc, thay đổi lối sống cũng đóng vai trò quan trọng. Bệnh nhân nên hạn chế dùng rượu, socola, hạn chế đồ ăn nhiều mỡ, mì chính, dùng ít các gia vị cay nóng… và cố gắng hạn chế mất ngủ, căng thẳng hay hút thuốc lá.
Đau đầu do căng thẳng
Còn được gọi là đau đầu căng cơ, nữ bị nhiều hơn nam, dễ gặp hơn ở những người thường xuyên bị căng thẳng kéo dài, trầm cảm, lo âu, mất ngủ…
Triệu chứng
Thường đau ở hai bên đầu, đau thường xuyên, không có cảm giác mạch đập như migraine
Bệnh nhân cảm thấy như đầu bị bó chặt lại từ hai thái dương hay vùng chẩm, vùng cổ, khởi phát đau từ từ, có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, ít ảnh hưởng đến các hoạt động thể lực hằng ngày.
Điều trị
Cắt cơn đau bằng thuốc giảm đau như paracetamol, các thuốc giãn cơ.
Điều trị dự phòng bằng thuốc chống trầm cảm ba vòng.
Điều trị không dùng thuốc bao gồm nghỉ ngơi, sử dụng các túi chườm ấm hoặc chườm lạnh lên vùng đau , loại bỏ căng thẳng trong cuộc sống, tập yoga…
Đau đầu thứ phát
Có rất nhiều nguyên nhân điều trị khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân.
Xuất huyết dưới nhện:
Là một loại đau đầu thứ phát đặc biệt nguy hiểm.
Bệnh nhân đột ngột xuất hiện triệu chứng đau đầu dữ dội, nôn, có thể có lú lẫn hoặc hôn mê, khám thực thể có dấu hiệu cứng gáy.
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vỡ túi phình mạch máu não khiến máu tràn vào khoang trong dưới nhện và não thất. Bệnh nhân có thể tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Đau đầu do u não:
Ngược lại với khởi phát cấp tính dữ dội trong xuất huyết dưới nhện, triệu chứng đau đầu trong bệnh u não thường khởi phát từ từ tăng dần, một số tác giả còn mô tả biểu hiện đau đầu này giống như vết dầu loang, đau đầu hay tăng lên về nửa đêm và gần sáng.
Ở giai đoạn sớm của bệnh, bệnh nhân có thể chỉ có triệu chứng đau đầu đơn độc, ở giai đoạn muộn hơn sẽ có các dấu hiệu của hội chứng tăng áp lực nội sọ:
- Buồn nôn, mờ mắt, nhìn đôi
- Các dấu hiệu thần kinh khu trú tùy thuộc vào vị trí của khối u: co giật, liệt nửa người, lú lẫn, loạng choạng, ù tai…
Khuyến cáo của bác sĩ
Để được chẩn đoán, điều trị kịp thời, tránh các biến chứng đáng tiếc, người bệnh cần phải đi khám ngay khi có biểu hiện đau đầu đột ngột, dữ dội hoặc đau đầu có kèm theo những triệu chứng sau:
- Lú lẫn hoặc không hiểu lời nói
- Sốt cao, mệt mỏi
- Cổ cứng
- Tê bì, yếu nửa người
- Nói khó
- Nhìn mờ
- Buồn nôn hoặc nôn
- Đi không vững
Nguồn: Bệnh Viện Việt Đức
Stress có ảnh hưởng đến cảm xúc và tinh thần. Ví dụ, cảm giác cáu kỉnh, luôn trong trạng thái lo lắng, bất an hoặc những thay đổi tâm trạng bất thường khác có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress.
Bạn có biết tại sao tim lại đập nhanh hơn hay tại sao lòng bàn tay bị đổ mồ hôi khi phải đối mặt với một tình huống căng thẳng không? Đó là do phản ứng tự nhiên của cơ thể khi gặp lo âu, căng thẳng.
Bệnh lý thần kinh do rượu sẽ ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thương vĩnh viễn ở hệ thần kinh và các bộ phận khác của cơ thể nếu người bệnh tiếp tục uống rượu. Điều này có thể dẫn đến khuyết tật, đau đớn mạn tính và thậm chí là tử vong.
Bệnh Parkinson là một bệnh do thoái hóa hệ thần kinh trung ương. Theo ước tính, đến nay có trên 10 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh Parkinson. Những người bị bệnh này gặp phải các triệu chứng chính là run chân tay, co thắt và đau cơ, dẫn đến đi lại vận động khó khăn. Một số người mắc bệnh Parkinson còn bị sa sút trí tuệ hay lú lẫn, đặc biệt là khi tình trạng bệnh tiến triển nặng.
Bệnh Parkinson là một dạng rối loạn thần kinh do thoái hóa, có các triệu chứng điển hình là run chân tay, mất khả năng kiểm soát vận động của cơ, dẫn đến khó khăn khi cử động, đi lại, nói chuyện… Bệnh còn gây ra nhiều triệu chứng khác và khi bệnh tiến triển sang các giai đoạn sau thì các triệu chứng càng nặng.





