Thế nào là biên độ vận động của khớp?
1. Các loại khớp trong cơ thể con người
Khớp xương là vị trí các xương tiếp xúc với nhau để tạo thành một hệ thống xương tổng thể. Ước tính mỗi một người bình thường có khoảng 250 - 350 khớp xương.
Dưới đây là các loại khớp phân loại khớp theo chức năng.
1.1 Khớp bất động
Trong cơ thể chúng ta có một số xương được khớp cố định với nhau như là xương sọ và một số xương mặt. Các xương này khớp nối với nhau bằng các răng cưa nhỏ hoặc do những mép xương chồng lên nhau như kiểu vảy cá. Các khớp này thường phạm vi cử động rất nhỏ hoặc thậm chí là không cử động.
1.2 Khớp bán động
Đây là loại khớp mà giữa hai đầu xương nói với nhau thường có một đĩa sụn làm giảm tầm vận động của khớp. Khớp giữa các đốt sống là khớp bán động điển hình, ngoài ra còn có khớp háng. Khớp bán động có biên độ hoạt động nhỏ, kém linh hoạt.
1.3 Khớp động
Đây là loại khớp vận động dễ dàng và phổ biến nhất trong cơ thể chúng ta. Tại mỗi đầu xương có một lớp sụn trơn, bóng và đàn hỏi có tác dụng giảm sự ma sát giữa hai đầu xương khi cử động.
Ngoài ra, giữa khớp còn có bao hoạt dịch tiết ra dịch nhầy giúp bôi trơn khớp. Bên ngoài là các dây chằng dai và đàn hồi chạy từ đầu xương này đến đầu xương kia tạo thành bao kín bọc lấy khớp. Chính nhờ cấu tạo này mà khớp có thể cử động dễ dàng.
2. Thế nào là biên độ vận động của khớp?
Biên độ vận động hay tầm vận động của khớp là góc mà khớp vận động được theo các hướng khác nhau. Đo tầm vận động của khớp chính là việc xác định giới hạn vận động của một khớp thực hiện được trong một mặt phẳng nhất định.
Việc đo tầm vận động khớp nhằm các mục đích sau:
- Đánh giá khả năng vận động của khớp
- Tìm ra rối loạn chức năng liên quan đến việc giảm tầm vận động khớp.
- Đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị, đặc biệt là phương pháp vận động trị liệu.
Để đánh giá một cách chính xác phải sử dụng thước đo để kiểm tra tầm vận động của khớp trên từng mặt phẳng. Có ba mặt phẳng được sử dụng ở đây đó là:
- Mặt phẳng dọc (Sagittal) hay còn gọi là mặt phẳng trước sau: Mặt phẳng này chia cơ thể thành hai nửa đó là trái, phải. Mặt phẳng này được sử dụng để đánh giá động tác gấp - duỗi.
- Mặt phẳng bên (Frontal) hay còn gọi là mặt phẳng trán: Chia cơ thể thành hai nửa trước, sau. Mặt phẳng này được sử dụng để đánh giá động tác dạng - khép.
- Mặt phẳng ngang (Horizontal): Chia cơ thể thành hai nửa trên dưới. Mặt phẳng này được sử dụng để đánh giá động tác xoay (quanh trục đứng dọc).
Các vận động cơ bản của khớp gồm có:
- Động tác gấp: Là cử động ra trước trên mặt phẳng dọc của đầu, cổ, thân, chi trên và hông; nhưng lại là cử động ra sau trên mặt phẳng dọc của khớp gối, cổ chân và ngón chân.
- Động tác duỗi: Là cử động ra sau trên mặt phẳng dọc của đầu, cổ, thân, chi trên và hông; nhưng lại là cử động ra sau trên mặt phẳng dọc của khớp gối, cổ chân và ngón chân.
- Động tác dạng: Là cử động hướng ra ngoài mặt phẳng bên của cơ thể.
- Động tác khép: Là cử động hướng vào trong mặt phẳng bên của cơ thể.
- Động tác xoay: Là cử động xoay của một phần cơ thể quanh trục của nó.
Vận động của một khớp còn được chia thành vận động chủ động và vận động thụ động. Điều này giúp tìm ra nguyên nhân gây hạn chế vận động là do đâu. Nếu cứng khớp thì tầm vận động chủ động và thụ động đều bị hạn chế như nhau. Nhưng nếu không phải do cứng khớp mà do cơ yếu thì chỉ hạn chế vận động chủ động, còn vận động thụ động vẫn bình thường.
3. Biên độ vận động của một số khớp
3.1. Biên độ khớp vai
- Vận động gập - duỗi khớp vai:
- Vận động dạng - khép khớp vai:
- Vận động xoay trong - xoay ngoài khớp vai:
3.2. Biên độ khớp khuỷu
Gấp 140 độ, duỗi 0 độ (-10 độ)
3.3. Biên độ khớp cổ tay
- Vận động gấp - duỗi khớp cổ tay
- Vận động nghiêng trụ - nghiêng quay
3.4. Biên độ khớp háng
- Vận động gấp khớp háng:
- Vận động duỗi khớp háng:
- Vận động dạng - khép khớp háng:
- Vận động xoay trong - xoay ngoài khớp háng
3.5. Biên độ khớp gối
Gấp 140 độ, duỗi 0 độ
3.6. Biên độ khớp cổ chân
- Vận động gấp - duỗi khớp cổ chân:
- Vận động xoay trong - xoay ngoài khớp cổ chân
4. Đánh giá rối loạn vận động khớp
Sau khi đo tầm vận động cần đánh giá xem khớp có bị rối loạn vận động hay không, nếu có thì thuộc loại rối loạn nào sau đây:
- Hạn chế vận động: Là khớp vẫn vận động được nhưng không hết tầm. Ngoài ra còn phải đánh giá xem khớp hạn chế vận động chủ động hay thụ thụ động hay cả hai.
- Cứng khớp: Là khớp hoàn toàn không vận động được nữa.
- Lỏng khớp: Là khớp vận động quá tầm bình thường.
XEM THÊM:
- Cấu tạo khớp gối - lý do giải thích tại sao khớp gối dễ chấn thương
- Đứt dây chằng chéo khớp gối dễ gặp khi chơi thể thao
- Phục hồi chức năng vận động cho người bị viêm khớp dạng thấp
Tổn thương dây chằng chéo trước là thương tổn thường gặp nhất trong nhóm chấn thương khớp gối. Hàng năm, tại Mỹ khoảng 200.000 bị tổn thương dây chằng chéo trước và hơn nửa số đó phải điều trị bằng phấu thuật.
Xương quai xanh có tác dụng rất quan trọng, là nơi treo xương cánh tay vào thân. Gãy xương quai xanh là một chấn thương thường gặp ở vùng vai, trong trường hợp ngã hoặc chấn thương do tai nạn giao thông.
Hội thấp khớp học Hoa Kỳ (American College of Rheumatology, ARC) đã đưa ra một số tiêu chuẩn để chẩn đoán chính xác thoái hóa khớp gối. Những biểu hiện của thoái hóa khớp gối bao gồm: xuất hiện gai xương dưới sụn, mất dần sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn, cử động khớp đau, có tiếng lục khục, lệch trục khớp...
X-quang có vai trò quan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý khớp gối. Nó là một trong những xét nghiệm nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh và dùng phân biệt giữa các bệnh lý khớp gối khác nhau.
Xương đùi là phần xương chắc khỏe nhất trong cơ thể vì thế phải có lực tác động rất mạnh mới có thể làm gãy thân xương đùi. Xương đùi cũng là xương dài nhất, mỗi vị trí gãy sẽ có đặc điểm và biện pháp xử trí khác nhau.
Biến dạng ngón chân cái (bunion) là tình trạng mà mặt bên của khớp bàn ngón chân cái bị lồi lên bất thường. Điều này xảy ra khi một số xương ở phần trước của bàn chân bị lệch khỏi vị trí, làm cho đầu ngón chân cái bị kéo về phía các ngón chân còn lại và buộc khớp bàn ngón chân cái nhô ra ngoài. Da quanh khớp biến dạng có thể bị đỏ và đau.
Viêm quanh khớp vai thể đông cứng (adhesive capsulitis) hay đông cứng khớp vai (frozen shoulder) là một bệnh có đặc trưng là đau và cứng khớp vai. Các dấu hiệu và triệu chứng thường xuất hiện từ từ, nặng dần theo thời gian và sau đó biến mất, thường trong vòng 1 đến 3 năm.
Có rất nhiều cách để giảm đau nhức do viêm khớp, gồm có dùng thuốc, chườm, tập thể dục thường xuyên, vật lý trị liệu, thảo dược và thực phẩm chức năng. Bạn có thể kết hợp nhiều biện pháp với nhau để giảm đau một cách hiệu quả nhất.
Viêm khớp tự phát thiếu niên thể đa khớp (polyarticular juvenile idiopathic arthritis) là tình trạng viêm nhiều khớp cùng lúc ở trẻ em dưới 16 tuổi. Đây là một bệnh mạn tính, có nghĩa là không thể chữa khỏi hoàn toàn và các triệu chứng sẽ kéo dài đến tuổi trưởng thành nhưng các phương pháp điều trị có thể giúp làm giảm các triệu chứng.
Viêm khớp vảy nến và viêm khớp dạng thấp đều là những bệnh lý do viêm và có nhiều triệu chứng giống nhau. Tuy nhiên, hai bệnh lý này cũng có những triệu chứng khác nhau. Nguyên nhân và cách điều trị cũng không giống nhau.





