Tần số tim là gì và cách đo?
1. Tần số tim là gì?
Tần số tim là số nhịp tim, nhịp xoang hoặc chu kỳ tim trong một phút. Ở trạng thái nghỉ, tần số tim ở người trưởng thành như sau:
- Tần số tim bình thường: 60 - 100 nhịp/phút.
- Tần số tim nhanh: >100 nhịp/phút.
- Tần số tim chậm: <60 nhịp/phút.
Khi tần số tim nhanh, cung lượng tim sẽ bị giảm và nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến suy chức năng tim. Khi tần số tim chậm, các cơ quan trong cơ thể không được cung cấp đủ máu để nuôi dưỡng và hoạt động, nhất là tim và bộ não, do đó, người bệnh có thể cảm thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc bị ngất. Khi tần số tim không bình thường, tức nhịp tim bị rối loạn có thể gây ra các triệu chứng như khó thở, đau tức vùng ngực, tình trạng này nếu không điều trị và để trong thời gian dài có thể khiến chức năng tim bị suy giảm.
XEM THÊM: Các yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim
Thăm khám, kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp kịp thời phát hiện những vấn đề bất thường về tim mạch. Trong đó, đo tần số tim rất quan trọng vì cho biết nhịp tim có bị rối loạn, nhanh hoặc chậm.
2. Cách đo tần số tim
Để kiểm tra và xác định những vấn đề bất thường về nhịp tim, các bác sĩ sẽ tiến hành đo tần số tim. Có 3 cách đo tần số tim, đó là: thước tần số,
2.1 Cách đo tần số tim bằng thước tần số
Sử dụng thước tần số để đo tần số tim là phương pháp có nhiều ưu điểm và tiện lợi. Thước tần số gồm có hai mặt, mặt 1 và mặt 2. Trong đó, mặt 1 được dùng để đo với điện tâm đồ có vận tốc ghi là 25mm/giây và mặt 2 được dùng để đo với điện tâm đồ có vận tốc ghi là 50mm/giây. Mỗi mặt có hai bờ với vạch chia như sau:
- Bờ 1 (hay còn gọi là bờ 2RR): là một hàng các vạch tần số. Chữ 2RR, trong đó RR chính là khoảng cách từ sóng R đến sóng R liền sau. Bờ 2RR được sử dụng trong những trường hợp tần số tim chậm và bình thường.
- Bờ 2 (hay còn gọi là bờ 10RR): được sử dụng trong những trường hợp tần số tim nhanh, rung thất hoặc được dùng để tính tần số riêng của sóng P’ hoặc f đối với các trường rung nhĩ hoặc cuồng động nhĩ.
Ví dụ về việc sử dụng thước tần số để đo tần số tim với nhịp tim bình thường hoặc chậm và vận tốc ghi là 25mm/s, chọn mặt 1 và bờ 2RR. Áp thước tần số sao cho bờ được đặt dọc theo chuyển đạo và mũi tên của bờ hướng vào đỉnh sóng R. Ứng với đỉnh sóng R cách sóng R, chúng ta có thể đọc được kết quả tần số tim cần đo.
2.2 Cách đo tần số tim bằng bảng tần số
Để đo tần số tim bằng bảng tần số, trước tiên cần tính khoảng RR bằng bao nhiêu phần trăm giây (s). Với điện tâm đồ có vận tốc ghi là 25mm/s, mỗi khoảng RR có 18 ô, 1mm của ô vuông nhỏ tương ứng với 0,04s và 5mm của ô vuông lớn tương ứng với 0,2s, chúng ta xác định được khoảng RR là 0,72 phần trăm giây (0,04s × 18).
Dựa vào số phần trăm giây của khoảng RR, chúng ta có thể tìm tần số F tương ứng trong bảng tần số.
2.3 Cách đo tần số tim bằng công thức tần số
Trong trường hợp không thể sử dụng thước tần số và bảng tần số, chúng ta có thể sử dụng công thức để đo tần số tim. Sau khi xác định được khoảng RR bằng giây, chúng ta có thể sử dụng công thức sau để tính tần số F:
Công thức: F = 60/RR
Với khoảng RR = 0,7s, tần số tim tương ứng là 86 (60/0,7)
Một số điều cần lưu ý khi đo tần số tim như sau:
- Khi sóng R quá nhỏ hoặc mờ, không rõ, nên chọn sóng khác để tính tần số (ví dụ là sóng S).
- Với những trường hợp rối loạn nhịp tim, nhịp tim không đều, để xác định tần số tim trung bình phải chọn nhiều khoảng RR có độ dài ngắn khác nhau để tính trung bình cộng trước.
- Với trường hợp block nhĩ thất hoặc phân ly nhĩ thất, chúng ta phải tính tần số nhĩ và thất riêng vì hai sóng P và R tách nhau.
- Việc xác định tần số sóng f hoặc sóng P’ khi rung nhĩ hoặc cuồng động nhĩ cũng được tính bằng 3 công cụ nêu trên.
Tần số tim là số nhịp tim hoặc chu kỳ tim trong một phút. Có 3 cách đo tần số tim tương ứng với việc sử dụng 3 dụng cụ là thước, bảng và công thức.
Tập thể dục là “liều thuốc tốt” để kiểm soát huyết áp, nếu tập thể dục thường xuyên huyết áp sẽ dần trở về bình thường và giúp cơ thể khỏe mạnh. Tập gym là hình thức tập thể dục, vậy người bị cao huyết áp có nên tập gym?
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất hiện nay và có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi. Khoảng 4% trường hợp rung nhĩ xảy ra ở các bệnh nhân tuổi 8% bệnh nhân độ tuổi 80 trở lên có rung nhĩ.
Đặt stent trong nhồi máu cơ tim là thủ thuật ngoại khoa được áp dụng trong điều trị tim mạch. Đặt stent được chỉ định với trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, mạch vành bị tắc hẹp nặng không đáp ứng tốt với điều trị của thuốc.
Nhồi máu cơ tim hay bệnh động mạch vành cấp tính là một bệnh lý nguy hiểm thường gặp ở người cao tuổi. Tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch vẫn còn cao dù đã có xu hướng giảm so với trước đây. Hiện nay có 5 type nhồi máu cơ tim khác nhau và hay gặp nhất là nhồi máu cơ tim type 1.
Siêu âm tim là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, an toàn và được sử dụng rất phổ biến trong xác định những bất thường của tim.
Bệnh cơ tim Takotsubo (TC) xảy ra khi một phần của tâm thất trái tạm thời bị biến đổi hình dạng và giãn ra, thường do quá căng thẳng về mặt cảm xúc hoặc thể chất. Khi đó, khả năng bơm máu của tim sẽ bị giảm sút. Triệu chứng phổ biến nhất của TC bao gồm đau ngực dữ dội và khó thở, xuất hiện đột ngột.
Tim là một cơ quan cơ bắp, chủ yếu được cấu tạo từ một loại mô cơ đặc biệt gọi là cơ tim. Loại cơ này co bóp theo từng nhịp đập của tim, giúp máu lưu thông trong cơ thể.
Dập cơ tim là tình trạng cơ tim bị tổn thương sau chấn thương ngực kín nghiêm trọng. Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn giao thông, rơi từ độ cao lớn và ép ngực trong quá trình hồi sức tim phổi (CPR).
Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi (resting heart rate) là số lần tim đập mỗi phút khi không hoạt động thể chất và không bị căng thẳng. Nhịp tim khi nghỉ ngơi là một chỉ số quan trọng phản ánh sức khỏe của tim.
Dấu hiệu cảnh báo điển hình của đau tim thường là tình trạng đau tức ngực. Tuy nhiên, có thể xuất hiện các dấu hiệu khác như chóng mặt, đau vùng cổ hoặc hàm.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), ước tính mỗi năm có khoảng 805.000 người ở Mỹ bị đau tim.
Đau tim, hay còn gọi là nhồi máu cơ tim, xảy ra khi lưu lượng máu đến tim bị tắc nghẽn. Nếu không đủ máu đến nuôi cơ tim, một phần cơ tim có thể bị tổn thương và hoại tử. Tình trạng này có thể đe dọa đến tính mạng.
Đau ngực là dấu hiệu cảnh báo đau tim phổ biến nhất, nhưng còn có thể kèm theo các dấu hiệu khác như khó thở hoặc chóng mặt. Các triệu chứng này có thể nặng, nhẹ và khác nhau ở từng người.
Đau tim đôi khi bị nhầm lẫn với ợ nóng (heartburn) hoặc cơn lo âu (anxiety attack). Hơn nữa, các triệu chứng có thể khác nhau giữa nam và nữ.
Bài viết này sẽ xem xét kỹ hơn các dấu hiệu cảnh báo của cơn đau tim, cảm giác thường thấy và các triệu chứng có thể khác nhau giữa nam và nữ như thế nào.





