Sự ra đời và phát triển của vắc-xin Rota
1. Rotavirus là gì?
Rotavirus được bài tiết với số lượng rất lớn trong phân, tương ứng với 1011 virus trên mỗi gam được mô tả. Virus sẽ được truyền qua đường phân - miệng.
Rotavirus rất ổn định trong phân và có thể tồn tại trong nhiều ngày ở nhiệt độ thường. Điều đó khiến chúng dễ truyền lây lan hơn trong các môi trường như trung tâm chăm sóc sức khỏe trẻ em, bệnh viện...
Các nhà nghiên cứu đã thấy rằng rotavirus sao chép trong tế bào ruột của ruột non. Do đó, virus phải truyền sang ruột non để gây ra triệu chứng của bệnh. Sau thời gian ủ bệnh ngắn từ 24 đến 48 giờ, nôn mửa trước khi tiêu chảy sẽ xuất hiện trong hơn một nửa các trường hợp bị nhiễm trùng. Những trường hợp này sau 5-7 ngày bị tiêu chảy cấp có thể dẫn đến mất nước nhanh chóng, tiếp đó là hiện tượng sốt sẽ xảy ra ở khoảng một phần ba trẻ em bị nhiễm bệnh.
Các nghiên cứu lịch sử tự nhiên đã chỉ ra rằng khả năng miễn dịch tự nhiên có được do nhiễm bởi nhiễm trùng hoang dại cung cấp mức độ bảo vệ khỏi bệnh nhiễm trùng có triệu chứng trong tương lai. Và việc phơi nhiễm lặp đi lặp lại sẽ mở rộng sự đáp ứng miễn dịch dị hình đối với các chủng virus khác nhau. Đây chính là tiền đề thiết yếu để vắc-xin rotavirus sống giảm độc lực được phát triển.
2. Vắc-xin rota ra đời và phát triển thế nào?
Vắc-xin đầu tiên được lấy từ bò và khỉ. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những vắc-xin sống dạng uống có thể ngăn ngừa tiêu chảy do rotavirus ở trẻ nhỏ, nhưng hiệu quả rất khác nhau. Do khả năng miễn dịch với protein G (VP7) hoặc P (VP4) có liên quan đến sự bảo vệ và phục hồi bệnh, nên vắc-xin virus sống được phát triển kết hợp protein G hoặc cả protein G và P cho từng loại huyết thanh chiếm ưu thế.
Vào năm 1998, vắc-xin rotavirus hóa trị bốn dựa trên khỉ nâu/khỉ rezut (RRV-TV, Rotashield) đã được cấp phép và khuyến nghị tiêm chủng định kỳ cho trẻ sơ sinh ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, RRV-TV đã bị rút khỏi Hoa Kỳ trong vòng một năm kể từ khi được giới thiệu vì nó có liên quan đến bệnh lồng ruột. Nguy cơ mắc bệnh lồng ruột cao nhất trong vòng 3 đến 14 ngày sau khi nhận được liều vắc-xin RRV-TV đầu tiên, và nguy cơ nhỏ hơn trong vòng 3 đến 14 ngày sau khi nhận liều vắc-xin thứ hai.
Nhìn chung, nguy cơ liên quan đến liều vắc-xin RRV-TV đầu tiên được ước tính là khoảng một trường hợp trên 10,000 người nhận vắc-xin. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nguy cơ mắc bệnh lồng ruột liên quan đến liều vắc-xin đầu tiên với sự tăng tuổi khi tiêm.
Hiện nay, có hai loại vắc-xin rota được cấp phép sử dụng tại Hoa Kỳ:
- RV5 (RotaTeq):
Là một loại vắc-xin dạng uống được sản xuất trực tiếp bởi Merch. Đồng thời, cũng được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm cấp phép vào tháng 2 năm 2006.
Vắc-xin RotaTeq chứa năm loại rotavirus tái tổ hợp được phát triển từ các chủng rotavirus ở người và bò. Mỗi lọ vắc-xin 2ml chứa khoảng 2x106 đơn vị truyền nhiễm của một trong số năm chủng tái tổ hợp.
Các virus trong vắc-xin sẽ bị đình chỉ trong một dung dịch đệm chứa sucrose, sodium citrate, sodium phosphate monobasic monohydrate, sodium hydroxide, polysorbate 80 và môi trường nuôi cấy mô. Một lượng dấu vết huyết thanh của bào thai bò có thể có mặt trong hỗn hợp này. Vắc-xin không chứa chất bảo quản hoặc Thiomersal.
Khả năng truyền virus vắc-xin không được đánh giá trong các thử nghiệm. Trong một đánh giá sau cấp phép tại Hoa Kỳ, các mẫu phân được thu thập từ trẻ sơ sinh trong 9 ngày đầu tiên. Kháng nguyên rotavirus đã được phát hiện trong phân của 21% trong số 103 trẻ sơ sinh ( từ ngày thứ 3 sau tiêm chủng và muộn nhất là vào ngày thứ 9).
- VRV1 (Rotarix):
Là một loại vắc-xin dạng uống trực tiếp được sản xuất bởi GlaxoSmithKline, đã được FDA cấp phép vào tháng 4 năm 2008.
Vắc-xin Rotarix có chứa chủng rotavirus 89-12 (loại G1P1A). RV1 (Rotarix)được cung cấp dưới dạng bột đông khô và sẽ được hoàn nguyên khi sử dụng. Mỗi liều vắc-xin hoàn nguyên 1ml chứa ít nhất 106 đơn vị truyền nhiễm tế bào nuôi cấy trong bình.
Vắc-xin chứa acid amin, dextran, môi trường trung gian của Dulbecco đã được biến đổi, sorbitol và sucrose. Chất pha loãng chứa canxi cacbonat, nước vô trùng, và xanthan. Vắc-xin không chứa chất bảo quản và Thiomersal.
Việc cắt bỏ phân của kháng nguyên rotavirus được đánh giá trong tất cả hoặc một tập hợp con của bảy nghiên cứu ở các nước khác nhau. Sau liều thứ nhất, sự phát hiện của kháng nguyên rotavirus bởi EIA trong 50% đến 80% (tùy theo nghiên cứu) trẻ sơ sinh vào khoảng ngày thứ 7, và 24% vào khoảng ngày 30.
Sau liều thứ 2, sự phát hiện kháng nguyên của rotavirus đã được phát hiện trong 4% đến 18% trẻ sơ sinh vào khoảng ngày thứ 7 và 12% vào khoảng ngày 30. Khả năng lây truyền virus của vắc-xin đã được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng giữa các cặp sinh đôi (với cặp sinh đôi được nhận vắc-xin và cặp còn lại không được nhận vắc-xin). Nghiên cứu này cho thấy bằng chứng về việc truyền chủng vắc-xin ở 19% các cặp song sinh chưa được tiêm chủng và chuyển đổi huyết thanh ở 21% các cặp song sinh chưa được tiêm chủng.
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã phát triển vắc-xin Rotavin M1. Đây là loại vắc-xin sống giảm độc lực sử dụng ở dạng uống. Vắc-xin này được sản xuất trên thế bào thận khỉ. Mỗi liều có chứa 2ml vắc-xin chủng rotavirus G1P. Vắc-xin Rotavin M1 có ưu điểm là giá thành rẻ hơn các vắc-xin khác.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Làm gì để giảm áp lực của việc tiêm phòng đối với bé?
- Bác sĩ ơi, có cách nào để cha mẹ giúp bé giảm áp lực của việc tiêm vắc xin không ạ? Bé nhà em mỗi lần bước vào phòng tiêm là quấy khóc, đòi đi về, không chịu hợp tác với bác sĩ. Bác sĩ giúp em với ạ!
- 1 trả lời
- 1266 lượt xem
Con tôi bị phát ban 1 tuần sau khi tiêm vắc xin MMR, liệu có phải bé bị sởi không?
- Bác sĩ ơi, con tôi tự nhiên bị phát ban sau 1 tuần tiêm vắc xin MMR, như thế có phải cháu đã bị mắc sởi không ạ? Bác sĩ giải đáp giúp tôi với ạ! Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1662 lượt xem
Thử nghiệm về độ an toàn của vắc xin đã đủ nghiêm ngặt chưa?
- Bác sĩ cho hỏi những thử nghiệm về độ an toàn của vắc xin đã đủ nghiêm ngặt chưa ạ? Các quy trình để đo độ an toàn của vắc xin là gì ạ?
- 1 trả lời
- 1278 lượt xem
Tiêm nhiều mũi vắc-xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ thống miễn dịch của bé?
- Thưa bác sĩ, việc sử dụng nhiều hơn một mũi vắc -xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ miễn dịch của bé không ạ?
- 1 trả lời
- 1504 lượt xem
Bé chưa có phản ứng xấu với loại vắc xin nào, thì sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai?
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 9 tháng tuổi, bé chưa bao giờ phản ứng xấu với một loại vắc xin nào. Bác sĩ cho tôi hỏi, điều đó có nghĩa là cháu sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai, phải không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1638 lượt xem
Virut Rota gây tiêu chảy nặng, sốt, nôn mửa, mất nước và đôi khi tử vong ở trẻ. Vắc xin Rota giúp cơ thể chống lại virus rota, tránh tình trạng tiêu chảy nặng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Lợi ích của tiêm phòng vắc xin bại liệt là gì? Lịch tiêm chủng như thế nào? Cần lưu ý những gì trước khi cho bé tiêm phòng vắc xin bại liệt? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây!
Viêm gan B không chỉ thường gặp ở người lớn mà ngay cả trẻ em cũng có thể bị mắc bệnh. Những trẻ bị nhiễm bệnh hoặc là đã bị nhiễm khi ra đời hoặc nhiễm bệnh trong thời thơ ấu khi tiếp xúc gần gũi với người bị bệnh.
Vắc xin Hib bảo vệ trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn nặng, phần lớn ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi. Vi khuẩn có thể gây viêm nắp thanh quản (sưng nặng ở cổ họng gây khó thở), một dạng viêm phổi nghiêm trọng và một loại bệnh gọi là viêm màng não do vi khuẩn.
Vắc xin này bảo vệ chống lại các trường hợp nhiễm phế cầu khuẩn, phần lớn xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi và có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm.





