Sinh thiết não dưới hướng dẫn của hệ thống định vị không khung (Navigation) - Bệnh viện 108
Ngày nay, cùng với sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ, số bệnh nhân có tổn thương trong não được phát hiện ngày càng nhiều, nhu cầu điều trị ngày càng cao. Việc tiên lượng, lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp phụ thuộc vào bản chất của tổn thương.
Bản chất của tổn thương chính là kết quả giải phẫu bệnh từ mẫu bệnh phẩm lấy từ khối bệnh lý, đây được coi là “tiêu chuẩn vàng” của bệnh. Việc làm này có thể được tiến hành thông qua phẫu thuật mở, lấy khối bệnh lý.
Phẫu thuật là phương pháp loại bỏ tổn thương nhanh nhất, hiệu quả nhất. Tuy nhiên, đối với những tổn thương nằm sâu trong nhu mô não hoặc ở các vùng não chức năng, phẫu thuật có thể gây ra những tổn thương mô não lành, gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh hoặc để lại các di chứng nặng nề hơn. Trong những trường hợp này, việc lấy mô bệnh phẩm qua sinh thiết có vai trò rất quan trọng.
Sinh thiết não:
-
Được tiến hành qua sinh thiết mở hoặc sinh thiết định vị.
-
Sinh thiết mở có thể đươc tiến hành dễ dàng cho những tổn thương nông ở bề mặt vỏ não.
- Đối với các tổn thương nhỏ, đặc biệt nằm sâu trong nhu mô não, sinh thiết mở khó có thể lấy được những mô bệnh phẩm một các chính xác.
- Hệ thống định vị ra đời giúp cho việc sinh thiết có thể lấy được chính xác mô bệnh phẩm, đặc biệt giúp cho hạn chế tối đa tổn thương nhu mô não lành.
- Sinh thiết dưới hướng dẫn của các hệ thống định vị được gọi là sinh thiết định vị.
Có hai loại hệ thống sinh thiết định vị:
- Có khung và không khung.
- Hệ thống sinh thiết định vị có khung được áp dụng phổ biến hơn.
- Hệ thống sinh thiết định vị không khung ít cồng kềnh và tiện sử dụng hơn
Chỉ định:
-
Thương tổn không có biểu hiện “choáng chỗ” hoặc không có chỉ định phẫu thuật mở như: u di căn nhiều ổ hay u não ác tính.
-
Thương tổn ở sâu, vùng vỏ não chức năng hoặc nhân xám ở sâu (hạch nền, đồi thị..) những vị trí khi phẫu thuật sẽ mang lại tỉ lệ tử vong và tàn phế cao.
- Thương tổn xâm lấn: không có ranh giới rõ, dễ lấy lẫn vào mô não lành.
- Những thương tổn xuất hiện trên chẩn đoán hình ảnh hoặc biểu hiện lâm sàng nghi ngờ những nguyên nhân viêm nhiễm, bệnh mất myelin,…
Quy trình kỹ thuật:
-
Nhập dữ liệu hình ảnh CHT vào hệ thống định vị và lập chương trình sinh thiết.
-
Cố định khung quy chiếu vào giá Mayfield.
- Tạo liên kết giữa máy tính với bệnh nhân
- Định vị điểm sinh thiết trên da
- Đánh dấu vị trí mở da và xương sọ trên da
- Mở da và xương sọ theo vị trí đã đánh dấu
- Mở màng cứng và lấy bệnh phẩm theo chương trình
- Tháo hệ thống sinh thiết và đóng vết mổ
Nguồn: Bệnh viện 108
Căng thẳng kích hoạt phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy (fight-or-flight) của cơ thể. Căng thẳng mạn tính có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều hệ thống, gồm có hệ miễn dịch, tiêu hóa và tim mạch.
Căng thẳng và lo lắng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả thị lực. Căng thẳng có thể gây giảm thị lực và các thay đổi về thị lực khác như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng hoặc thậm chí mất thị lực.
Stress có ảnh hưởng đến cảm xúc và tinh thần. Ví dụ, cảm giác cáu kỉnh, luôn trong trạng thái lo lắng, bất an hoặc những thay đổi tâm trạng bất thường khác có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress.
Rối loạn căng thẳng sau sang chấn có thể gây cản trở hoạt động hàng ngày và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, điều trị đúng cách có thể giúp kiểm soát tốt các triệu chứng của rối loạn căng thẳng sau sang chấn.
Mặc dù stress mạn tính là điều cần phải cố gắng tránh nhưng stress ở mức độ vừa phải có thể có lợi.





