Phản ứng dị ứng với các thành phần của vắc-xin
1.Protein trứng (ovalbumin)
Dị ứng trứng là vấn đề chính được quan tâm khi đề cập đến dị ứng vắc-xin. Ở các nước phương Tây, dị ứng trứng thường ảnh hưởng đến 1,6 cho đến 2,4% số trẻ em. Do trong quá trình nuôi cấy sản xuất các loại vắc-xin như: sởi, quai bị, rubella, cúm, sốt vàng, herpes simplex 1 và 2 và vắc-xin dại có thể có chứa một lượng nhỏ protein của trứng từ môi trường nuôi cấy.
Ovalbumin có thể là nguyên nhân gây ra dị ứng hoặc thậm chí sốc phản vệ ở những người dị ứng với trứng. Tuy nhiên một số nghiên cứu đã cho thấy dị ứng với protein của trứng không có nghĩa là chống chỉ định tiêm vắc-xin rubella thậm chí trong những trường hợp có phản ứng quá mẫn nặng. Trong khi các vắc-xin rubella và dại được nuôi cấy và phát triển trên nguyên bào sợi phôi gà con thì virus herpes simplex, cúm và sốt vàng cần được nuôi cấy trên trứng gà có phôi. Vì vậy những vắc-xin này có thể chứa một lượng lớn protein trứng hơn các vắc-xin trên và thường chống chỉ định cho bệnh nhân có tiền sử dị ứng nặng với trứng. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu hàng loạt trường hợp lâm sàng cho thấy bệnh nhân vẫn có thể được tiêm vắc-xin cúm an toàn mặc dù trước đó có sốc phản vệ với trứng nếu hàm lượng protein trứng < 0,6μg /0,5ml.
2. Gelatine
Gelatine là một loại protein động vật có nguồn gốc từ lợn và bò. Gelatine được sử dụng làm chất ổn định trong các loại vắc-xin sống giảm độc lực. Gelatine có thể thấy ở rất nhiều các loại vắc-xin như vắc-xin phòng rubella, viêm não Nhật Bản, DTaP và thủy đậu. Lượng gelatine thay đổi khác nhau giữa các loại vắc-xin <30 μg đến>15 500 μg/ liều.
Mặc dù phản ứng dị ứng qua trung gian IgE với các vắc-xin có chứa gelatine là rất hiếm nhưng y văn ghi nhận một số trường hợp phản ứng xảy ra sau tiêm vắc-xin rubella, thủy đậu và viêm não Nhật Bản. Tỷ lệ sốc phản vệ với vắc-xin phòng sởi là 0,18/100000 liều. Kháng thể IgE với gelatine được phát hiện ở 28% số bệnh nhân (10/36) có phản ứng quá mẫn nhanh với vắc-xin rubella., 93% trong tổng số 206 bệnh nhân sốc phản vệ và 56% số bệnh nhân mày đay. Ngược lại, không có bệnh nhân nào có IgE đặc hiệu với gelatine trong nhóm chứng và nhóm bệnh nhân có biểu hiện phản ứng tại chỗ. Ngày nay, ở một số nước người ta đã sử dụng vắc-xin không có chứa gelatine để hạn chế phản ứng dị ứng toàn thân qua trung gian IgE và đặc biệt là sốc phản vệ.
3. Protein của men
Vacxin phòng viêm gan B và HPV được sản xuất bằng việc thu hoạch kháng nguyên từ nuôi cấy tế bào tái tổ hợp chuỗi của Saccharomyces cerevisiae một loại men bia. Trong vắc-xin phòng HPV không thấy có DNA của men bia được phát hiện mà chỉ còn lại dấu vết có thể thấy được. Các nghiên cứu thị trường về tính an toàn của hai loại vắc-xin tái tổ hợp HBV và HPV cho thấy giảm thiểu nguy cơ dị ứng với protein men ở những người nhạy cảm.
4. Kháng sinh
Nhiều loại vắc-xin có chứa dấu vết của kháng sinh như aminoglycosides, polymyxin, chlortetracycline, và thuốc kháng nấm amphothericin B để chống nhiễm khuẩn và nấm trong quá trình sản xuất vắc-xin. Ngày nay, có rất ít các báo cáo về tình trạng dị ứng vắc-xin liên quan đến kháng sinh. Neomycin sulphate là sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất của hầu hết các vắc-xin. Trong thị trường một số nước tiên tiến hàm lượng vết tích kháng sinh neomycin chỉ dưới 25 μg /liều. Và có sự thống nhất rằng nếu bệnh nhân có tiền sử sốc phản vệ với neomycin đường tại chỗ hoặc toàn thân thì không nên sử dụng các vắc-xin có chứa neomycin.
Ngược lại, neomycin là thuốc có tỷ lệ cao gây viêm da tiếp xúc. Tuy nhiên một lượng nhỏ neomycin được tìm thấy trong vắc-xin không đủ để gây ra phản ứng quá mẫn chậm nơi tiêm. Vì vậy, tất các các vắc-xin chứa neomycin đều có thể tiêm được cho bệnh nhân có dị ứng chậm với neomycin. Các kháng sinh khác như streptomycin, gentamycin, polymyxin B sulphate và chlortetracycline được báo cáo có liên quan đến như là nguyên nhân của các phản ứng dị ứng từ nhẹ đến nặng cả đường toàn thân và tại chỗ. Trong khi đó, không có bằng chứng cho thấy những kháng sinh này là nguyên nhân của các phản ứng dị ứng với vắc-xin.
5. Muối nhôm
Trong vắc-xin, muối nhôm được sử dụng như một tá dược làm tăng đáp ứng miễn dịch. Các biểu hiện thường gặp liên quan đến muối nhôm là các phản ứng tại chỗ tiêm như cảm giác đau, ngứa, sẩn cục. Chỉ có một vài trường hợp được báo cáo có phản ứng quá mẫn với nhôm tiến triển một tình trạng viêm da khu trú hoặc lan tỏa. Ngày nay, một số nghiên cứu cung cấp những bằng chứng khoa học về mối liên quan giữa nhôm và bệnh Alzheimer. Tuy nhiên không có bằng chứng rõ ràng giữa bệnh Alzheimer và tình trạng tiếp xúc nhôm từ vắc-xin và nhôm từ thức ăn nhiều hơn rất nhiều lần so với nhôm có trong vắc-xin. Tổ chức Y tế thế giới bình luận rằng, ngày nay không có bất cứ bằng chứng nào về nguy cơ sức khỏe gây ra do nhôm có chứa trong vắc-xin hay bất cứ sự bào chữa nào cho sự thay đổi hoạt động tiêm chủng ngày nay.
6. Các chất khác
Ngoài ra trong thành phần của vắc-xin còn có chứa các chất có vai trò bảo quản, ổn định. Các chất này cũng có thể là nguyên nhân tiềm tàng cho dị ứng vắc-xin nhưng rất hiếm và ít được ghi nhận.
Lưu ý: Chi tiết thành phần dị nguyên có trong vắc-xin được liệt kê trong bản phụ lục bên dưới
Phụ lục: Các dị nguyên có trong các loại vaccine (nguồn IVS: Insitute for Vaccine Safety, cập nhật 2020)








Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Làm gì để giảm áp lực của việc tiêm phòng đối với bé?
- Bác sĩ ơi, có cách nào để cha mẹ giúp bé giảm áp lực của việc tiêm vắc xin không ạ? Bé nhà em mỗi lần bước vào phòng tiêm là quấy khóc, đòi đi về, không chịu hợp tác với bác sĩ. Bác sĩ giúp em với ạ!
- 1 trả lời
- 1267 lượt xem
Bé có cần tiêm liều bổ sung nhắc lại không nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã có miễn dịch với bệnh?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, bé nhà tôi có cần phải tiêm liều vắc xin bổ sung nhắc lại không, nếu xét nghiệm máu cho thấy bé đã miễn dịch với bệnh? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1899 lượt xem
Bé chưa có phản ứng xấu với loại vắc xin nào, thì sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai?
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 9 tháng tuổi, bé chưa bao giờ phản ứng xấu với một loại vắc xin nào. Bác sĩ cho tôi hỏi, điều đó có nghĩa là cháu sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai, phải không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1640 lượt xem
Các phản ứng nhạy cảm với vắc xin có di truyền trong gia đình không?
- Bác sĩ cho hỏi, các phản ứng nhạy cảm với vắc xin có di truyền từ bố mẹ sang con không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1379 lượt xem
Làm gì khi bé phản ứng không tốt với vắc xin?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, những dấu hiệu nào cho thấy bé phản ứng không tốt với vắc xin. Và khi ấy, cha mẹ cần làm gì để xử lý tình trạng này?
- 1 trả lời
- 1075 lượt xem
Lợi ích của tiêm phòng vắc xin bại liệt là gì? Lịch tiêm chủng như thế nào? Cần lưu ý những gì trước khi cho bé tiêm phòng vắc xin bại liệt? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây!
Viêm gan B không chỉ thường gặp ở người lớn mà ngay cả trẻ em cũng có thể bị mắc bệnh. Những trẻ bị nhiễm bệnh hoặc là đã bị nhiễm khi ra đời hoặc nhiễm bệnh trong thời thơ ấu khi tiếp xúc gần gũi với người bị bệnh.
Vắc xin Hib bảo vệ trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn nặng, phần lớn ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi. Vi khuẩn có thể gây viêm nắp thanh quản (sưng nặng ở cổ họng gây khó thở), một dạng viêm phổi nghiêm trọng và một loại bệnh gọi là viêm màng não do vi khuẩn.
Virut Rota gây tiêu chảy nặng, sốt, nôn mửa, mất nước và đôi khi tử vong ở trẻ. Vắc xin Rota giúp cơ thể chống lại virus rota, tránh tình trạng tiêu chảy nặng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Vắc xin này bảo vệ chống lại các trường hợp nhiễm phế cầu khuẩn, phần lớn xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi và có thể dẫn đến một số bệnh nguy hiểm.





