Dị dạng động tĩnh mạch não: biểu hiện và phương pháp điều trị - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Ca bệnh
Bệnh nhân nam 48 tuổi, tiền sử khỏe mạnh. Cách đây khoảng 5 năm bắt đầu xuất hiện các cơn động kinh, mỗi năm 2 - 3 lần. Một năm trở lại đây, các cơn động kinh xuất hiện dày hơn, đau đầu tăng lên thì mới đi khám bệnh.
Bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt tuy nhiên có biểu hiện mệt mỏi, lo lắng, thường xuyên mất ngủ, đau đầu nhiều. Kết quả điện não đồ có sóng bất thường, không có liệt khu trú, chỉ có đau đầu. Chụp CT 128 dãy dựng mạch não thấy: Một khối dị dạng lớn, mặc dù chưa vỡ nhưng sát vỏ não.
Các bác sĩ quyết định phẫu thuật lấy bỏ khối dị dạng. Sau mổ 6 ngày, bệnh nhân hồi phục tốt và được xuất viện. Một tháng sau bệnh nhân đến khám lại, chụp phim kiểm tra thấy khối dị dạng đã được lấy bỏ hoàn toàn, kết quả điện não đồ bình thường, các chỉ số phục hồi tích cực.
Bệnh nhân sẽ được điều trị thuốc chống động kinh sau 3 tháng, ngoài ra không cần dùng thêm bất kỳ loại thuốc nào.
Dị dạng động tĩnh mạch não
- Dị dạng động tĩnh mạch não là một bệnh bẩm sinh của hệ thống mạch não
- Là sự thông thương trực tiếp giữa động mạch và tĩnh mạch không thông qua hệ thống mao mạch, không cấp máu cho nhu mô não, khi vỡ gây đột quỵ chảy máu não.
- Đây là loại dị dạng mạch máu bẩm sinh nguy hiểm nhất.
- Bệnh được phát hiện ở mọi lứa tuổi, hay gặp nhất là từ 10 - 30 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam 57,2% và nữ 42,8% với tần suất mắc bênh chung là 0,14%.
- Vị trí ổ dị dạng thường gặp chủ yếu là tầng trên lều tiểu não chiếm 85 - 90%, tầng dưới lều tiểu não chỉ khoảng 10 - 15% trong đó thân não có 10 - 15% .
Tiến triển
Khi ổ dị dạng chưa vỡ:
- Bệnh nhân có biểu hiện đau đầu mạn tính, điều trị nội khoa không khỏi, có những cơn co giật kiểu động kinh.
- Những trường hợp kích thước tổn thương dị dạng lớn có thể gây chèn ép não và thiếu máu não gây yếu liệt tay chân…
- Cũng có thể không có triệu chứng gì, được phát hiện tình cờ khi chụp cắt lớp, cộng hưởng từ hoặc chụp mạch vì bệnh khác.
Khi ổ dị dạng bị vỡ:
- Gây chảy máu não, thường chảy máu trong nhu mô não, có thể chảy máu não thất hoặc kết hợp, rất hiếm khi chảy máu dưới nhện.
- Triệu chứng đột ngột, cấp tính với mức độ nặng/nhẹ khác nhau với các biểu hiện: đau đầu dữ dội, nôn, buồn nôn, tăng huyết áp, ý thức có thể bình thường
Điều trị
Phẫu thuật mở:
- Mở hộp sọ, kẹp và cắt các mạch máu dị dạng.
- Thường áp dụng khi khối dị dạng vỡ gây máu tụ nội sọ hoặc khối dị dạng lớn gây dấu hiệu thần kinh khu trú.
Phẫu thuật tia xạ:
- Không mổ, dùng chùm tia xạ chiếu từ ngoài làm tổn thương các tế bào thành mạch bệnh lý, làm hẹp dần và tắc các mạch dị dạng.
Can thiệp nội mạch:
- Không mổ, dùng ống thông nhỏ đi qua động mạch đùi lên não, sử dụng chất gây tắc là keo (glue) hoặc Onyx để bơm tắc dị dạng động tĩnh mạch qua ống thông (nút mạch).
- Thông thường những dị dạng nhỏ < 3cm và cấu trúc đơn giản, có thể được điều trị triệt để bằng phương pháp nút mạch.
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Căng thẳng kích hoạt phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy (fight-or-flight) của cơ thể. Căng thẳng mạn tính có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều hệ thống, gồm có hệ miễn dịch, tiêu hóa và tim mạch.
Rối loạn căng thẳng cấp tính (acute stress disorder) thường xảy ra trong vòng một tháng sau sự kiện gây căng thẳng. Các triệu chứng cũng tương tự như triệu chứng của rối loạn căng thẳng sau sang chấn (post-traumatic stress disorder) nhưng rối loạn căng thẳng cấp tính chỉ là tạm thời, thường kéo dài từ vài ngày đến một tháng. Tuy nhiên, một số người sau khi bị rối loạn căng thẳng cấp tính lại tiếp tục gặp phải tình trạng rối loạn căng thẳng sau sang chấn.
Stress có ảnh hưởng đến cảm xúc và tinh thần. Ví dụ, cảm giác cáu kỉnh, luôn trong trạng thái lo lắng, bất an hoặc những thay đổi tâm trạng bất thường khác có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress.
Căng thẳng và lo lắng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả thị lực. Căng thẳng có thể gây giảm thị lực và các thay đổi về thị lực khác như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng hoặc thậm chí mất thị lực.
Hầu hết mọi người đều phải trải qua căng thẳng vào một thời điểm nào đó trong đời nhưng căng thẳng mạn tính sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe. Ở những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, căng thẳng có thể khiến các triệu chứng tái phát. Giữ tinh thần thoải mái, ít căng thẳng có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.





