Chuyên gia Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tư vấn bệnh lý dị dạng động tĩnh mạch não - Bệnh viện Việt Đức
Dị dạng mạch não là gì?
Dị dạng mạch não là những bất thường về mạch máu não ở một số vị trí trong não. Dị dạng động tĩnh mạch não (AVM) hay u máu (angioma) là những bất thường ở hệ thống mao mạch, khiến máu lưu thông qua dị dạng động tĩnh mạch não rất nhanh, chảy vào tĩnh mạch, vì vậy máu ở tĩnh mạch có màu đỏ, và vì chảy nhanh, áp lực lớn dễ gây tai biến chảy máu.
Tóm lại, dị dạng động tĩnh mạch não là bất thường mạch máu não, ở đó thiếu vắng hệ thống mao mạch, thay vào đó là khối dị dạng, khiến máu chảy từ động mạch trực tiếp sang tĩnh mạch. Khối dị dạng động tĩnh mạch não có thể nhỏ từ vài mm hoặc lớn tới vài cm. Dị dạng động tĩnh mạch não có thể gặp ở mọi vị trí trong não hay tủy sống.
Những dị dạng hay gặp bao gồm:
- Dị dạng động tĩnh mạch não, hay u máu trong não AVM (arteriovenous malformation).
- Rò động tĩnh mạch não AVF (arteriovenous fistula).
- U máu thể hang Cavernoma.
- Dị dạng tĩnh mạch não (developmental venous anomaly).
- Dị dạng mao mạch (capillary telangiectasia)..
Bình thường, mạng lưới mao mạch nằm giữa hệ thống động mạch và tĩnh mạch. Hệ thống mao mạch khá phức tạp nhưng mạng lưới mao mạch giúp trao đổi oxy và dinh dưỡng của máu trong lòng mao mạch với tổ chức não diễn ra thuận lợi, dòng máu chảy trong mao mạch chậm.
Nguyên nhân:
Nguyên nhân của dị dạng động tĩnh mạch não chưa rõ. Hầu hết dị dạng động tĩnh mạch não có từ khi mới sinh, nhưng rất hiếm trường hợp do di truyền.
Triệu chứng:
Đau đầu, co giật, động kinh, liệt, nói khó…
Khi dị dạng động tĩnh mạch não vỡ gây chảy máu trong sọ, người bệnh thường biểu hiện khá nặng như: lơ mơ, hôn mê, liệt nửa người…
Chẩn đoán:
Dựa vào chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và chụp mạch não.
Điều trị:
Khoảng 10-15% vỡ dị dạng động tĩnh mạch não gây tình trạng nặng và nguy cơ tử vong.
Dị dạng động tĩnh mạch não có thể điều trị bằng phẫu thuật, nút mạch, xạ phẫu hoặc theo dõi (không điều trị), hoặc phối hợp nhiều phương pháp. Tùy từng trường hợp cụ thể, dựa vào nhiều yếu tố, bác sỹ sẽ quyết định điều trị hay không, hoặc điều trị theo phương pháp nào.
Nguồn: Bệnh viện Việt Đức.
Căng thẳng kích hoạt phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy (fight-or-flight) của cơ thể. Căng thẳng mạn tính có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều hệ thống, gồm có hệ miễn dịch, tiêu hóa và tim mạch.
Rối loạn căng thẳng cấp tính (acute stress disorder) thường xảy ra trong vòng một tháng sau sự kiện gây căng thẳng. Các triệu chứng cũng tương tự như triệu chứng của rối loạn căng thẳng sau sang chấn (post-traumatic stress disorder) nhưng rối loạn căng thẳng cấp tính chỉ là tạm thời, thường kéo dài từ vài ngày đến một tháng. Tuy nhiên, một số người sau khi bị rối loạn căng thẳng cấp tính lại tiếp tục gặp phải tình trạng rối loạn căng thẳng sau sang chấn.
Stress có ảnh hưởng đến cảm xúc và tinh thần. Ví dụ, cảm giác cáu kỉnh, luôn trong trạng thái lo lắng, bất an hoặc những thay đổi tâm trạng bất thường khác có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress.
Căng thẳng và lo lắng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả thị lực. Căng thẳng có thể gây giảm thị lực và các thay đổi về thị lực khác như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng hoặc thậm chí mất thị lực.
Hầu hết mọi người đều phải trải qua căng thẳng vào một thời điểm nào đó trong đời nhưng căng thẳng mạn tính sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe. Ở những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, căng thẳng có thể khiến các triệu chứng tái phát. Giữ tinh thần thoải mái, ít căng thẳng có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.





