Chẩn đoán dị dạng đường dẫn khí bẩm sinh của phổi
1. Đặc điểm lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của CPAM là thay đổi. Nhiều trường hợp được phát hiện bởi siêu âm trước sinh thường quy. Những đánh giá sớm cho thấy rằng có tới 2/3 số trẻ được chẩn đoán CPAM trước sinh có triệu chứng khi sinh.
Các tài liệu gần đây cho thấy chỉ có khoảng 25% số trẻ mắc bệnh là có triệu chứng. Sự chênh lệch này có thể phản ánh sự tiến bộ trong công nghệ siêu âm trước sinh, như vậy giờ đây các tổn thương nhỏ đã có thể được nhận biết, và chúng thường không có triệu chứng.
1.1 Đặc điểm trước sinh
Sự xuất hiện của CPAM trên siêu âm trước sinh thay đổi từ sự phát hiện tình cờ các tổn thương nang đến các khối lớn ở phổi. Các tổn thương thoái lui và dường như hồi phục trong suốt thời kỳ mang thai ở khoảng 50% các trường hợp đã được khẳng định bằng chẩn đoán siêu âm bào thai, nhưng phần lớn trong số này vẫn có thể tìm ra trên chẩn đoán hình ảnh sau khi sinh.
Trong số các tổn thương xuất hiện từ lúc sinh, việc tổn thương tự thoái lui hoàn toàn được báo cáo trong một số ít các trường hợp. Một đánh giá hồi cứu cho thấy kích thước CPAM tối đa đạt được vào khoảng tuần thứ 25 của thai kỳ và sự giảm sút về kích thước có thể là tiên lượng tốt, trừ khi xuất hiện hiện tượng phù thai.
1.1.1 Chẩn đoán hình ảnh trước sinh
CPAM là 1 trong những tổn thương phổi thường gặp chẩn đoán trước sinh, mặc dù tỷ lệ mắc lúc sinh thấp. Chẩn đoán trước sinh khá đặc hiệu bởi siêu âm. Biểu hiện của CPAM trước sinh được phân loại dựa vào đặc điểm trên siêu âm và giải phẫu nói chung.
Các tổn thương nang nhỏ bao gồm các dạng kích thước <5 mm v?? h??nh ảnh si??u ??m dạng ??ặc, trong khi những tổn th????ng nang lớn bao gồm 1 hoặc nhiều k??ch th??ớc> 5mm.
Tỷ số thể tích CPAM (CVR) là 1 chỉ số của thể tích CPAM liên quan đến đầu thai nhi, và là 1 chất chỉ thị chẩn đoán khá hữu ích. Đánh giá bổ sung bằng MRI trước sinh có giá trị trong việc phân biệt CPAM với các bất thường phổi khác, bao gồm phổi biệt lập, thoát vị hoành bẩm sinh và ứ khí thùy phổi bẩm sinh.
Xấp xỉ 25% trẻ sơ sinh được phát hiện CPAM trước sinh cũng có bất thường cấu trúc khác, phần lớn các trường hợp này đều liên quan đến CPAM type 2. Trong các trường hợp bất thường như vây, nên kiểm tra karyotype bào thai. Đặc điểm của CPAM đơn độc là không liên quan đến các bất thường NST.
1.1.2 Phù bào thai
Phù bào thai xuất hiện trong 5 đến 40% các trường hợp, do rối loạn huyết động từ sự tắc nghẽn tĩnh mạch chủ dưới, lệch vị trí tim và đè đẩy các cấu trúc xung quanh. Nguy cơ phù thai cao nhất ở các bào thai có tổn thương lớn, tổn thương còn dai dẳng đến thai kỳ thứ 3 và tổn thương các nang nhỏ. Đặc biệt tỷ lệ thể tích CPAM (CVR), đo lường thể tích của CPAM so với đầu bài thai, dự đoán nguy cơ tăng phù thai.
1.2 Thời kỳ sơ sinh
1.2.1 CPAM không triệu chứng
Xấp xỉ 3⁄4 các bệnh nhân chẩn đoán trước sinh là CPAM không có triệu chứng lúc sinh.
Diễn biến tự nhiên của CPAM không triệu chứng lúc sinh không được mô tả kỹ lưỡng. Nhưng rõ ràng là một số trẻ sơ sinh sẽ có nguy cơ xuất hiện các biến chứng (mà chủ yếu là nhiễm trùng) trong suốt những năm đầu của cuộc sống.
Tuy nhiên, tần suất gặp thay đổi đáng kể ở các trường hợp khác nhau. Nguy cơ ác tính rất thấp trừ tổn thương type 4, mặc dù tổn thương type 1 có 1 vài trường hợp nguy cơ ác tính tiềm tàng. Sự không rõ ràng về nguy cơ nhiễm trùng và ác tính chính là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất về quản lý bệnh nhân CPAM sau sinh.
1.2.2 CPAM có triệu chứng
Như đã trình bày, phần lớn CPAM không có triệu chứng, 25% còn lại của các bệnh nhân được chẩn đoán trước sinh là CPAM có triệu chứng lúc sinh. Trong một loạt 89 trẻ sơ sinh có chẩn đoán trước sinh là CPAM, 22 trẻ có dấu hiệu thở không bình thường và trong đó có 12 trẻ có biểu hiện suy hô hấp nặng.
Khả năng suy hô hấp và mức độ của nó tăng lên cùng với kích thước của tổn thương (ví dụ CVR > 0.84). Các yếu tố dự báo khác trên siêu âm trước sinh của suy hô hấp lúc sinh bao gồm: trung thất bị đè đẩy, đa ối và cổ trướng.
Một số dấu hiệu lâm sàng liên quan đến các type CPAM là:
- Type 0: Liên quan đến giảm sút nặng sự trao đổi khí và ảnh hưởng đến tử vong trẻ sơ sinh lúc sinh.
- CPAM type 1 bao gồm phần lớn CPAM xuất hiện ở trẻ sơ sinh. Khi có triệu chứng, các dấu hiệu đặc trưng bao gồm thở nhanh, gắng sức cơ hô hấp với thở rên và rút lõm, và tím. Tùy vào mức độ lớn của bẫy khí ở trên, nang lớn có thể nở rộng dẫn đến suy hô hấp.
- CPAM type 2 thường được chẩn đoán sớm ngay sau sinh vì chúng có liên quan đến các bất thường khác, tỷ lệ lên tới 60% các bệnh nhân bị mắc. Dấu hiệu và triệu chứng hô hấp xuất hiện thì giống với CPAM type 1.
- CPAM type 3 là loại nặng nhất (khác với type 0 đều gây tử vong lúc sinh). Tổn thương type 3 lớn và có thể bao gồm toàn bộ phổi, điển hình là hiện tượng phù thai và thiểu sản phổi. đứa trẻ có thể chết khi sinh ra hoặc ngay sau khi sinh với tình trạng giảm thông khí tiến triển, nặng, tím và suy hô hấp. Về phương diện dịch tễ, tỷ lệ nam là trội hơn nhiều.
- CPAM type 4 có thể xuất hiện quanh thời kỳ sơ sinh và có thể khó khăn trong việc phân biệt với type 1. Biểu hiện tràn khí màng phổi tự phát đã được báo cáo trong 1 vài ca bệnh. Vì nhiều tổn thương typ 4 hầu như chắc chắn do u nguyên bào phổi màng phổi nên chúng ta phải nghĩ đến tổn thương ác tính khi 1 trẻ sơ sinh có tràn khí màng phổi và CPAM.
1.3 Thời kỳ thơ ấu
Khoảng 1/3 các CPAM được chẩn đoán vào sau giai đoạn sơ sinh. Các tổn thương đặc trưng này thường là type 1,2,4 và có xu hướng nhỏ hơn các CPAM có triệu chứng hô hấp lúc sinh.
Dấu hiệu thường gặp ở trẻ lớn tuổi là viêm phổi tái phát nhiều lần. Dấu hiệu khác khiến bệnh nhân phàn nàn là ho, khó thở, và/hoặc tím. Khám các dấu hiệu thực thể bao gồm giảm thông khí phổi ở vùng tổn thương, thành ngực không cân đối, vùng tổn thương phồng lên.
CPAM có thể biểu hiện bằng tràn khí màng phổi tự phát. Vì tràn khí màng phổi thường liên quan nhất đến type 4, mà type 4 có liên quan đến tổn thương ác tính, nên chúng ta luôn phải nghĩ đến và tìm tổn thương ác tính trong trường hợp bệnh nhân có tràn khí màng phổi và CPAM.
Trong một báo cáo 12 bệnh nhân được chẩn đoán là CPAM từ 6th đến 23 tuổi (tuổi trung bình 6.7), 9 bệnh nhân có biểu hiện viêm phổi tái phát, 1 trường hợp có tràn khí màng phổi và 2 trường hợp được phát hiện một cách tình cờ. Trong số 11 bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ CPAM, có 7 ca CPAM type 1 và 4 ca CPAM type 2.
2. Chẩn đoán hình ảnh
CPAM type 1, 2 và 4 được mô tả là nang chưa đầy khí. Chỉ dựa vào hình ảnh X-Quang khó có thể phân biệt được. Tuy nhiên, type 1 và type 4 có xu hướng xuất hiện các tổn thương đơn độc, với 1 hoặc nhiều nang lớn và có thể chứa đầy hoàn toàn không khí hoặc có mức nước - dịch. Ở type 2 thì số lượng nang nhỏ xuất hiện nhiều và đồng nhất, giống như hình ảnh bong bóng.Ngược lại, CPAM type 3 thường xuất hiện với hình ảnh khối lớn, đặc và đồng nhất. Trung thất thường bị đè đẩy rõ rang sang bên đối diện và có hiện tượng giảm sản phổi cùng bên do khối đè đẩy. Sự xuất hiện của tràn khí màng phổi hoặc nang 2 bên, hoặc rất nhiều nang nhỏ như tổ ong phần lớn gợi ý là CPAM typ 4. Điều quan trọng để phân biệt là dựa vào lâm sàng, vì type 4 thường liên quan với sự ác tính.
CT ngực có tương quan với các triệu chứng bệnh lý biểu hiện. Trong một báo cáo, CT trước phẫu thuật được so sánh với các biểu hiện bệnh lý. CT nhận biết được chính xác cả các nang nhỏ (<2cm) và nang lớn mặc dù chúng có thể chứa toàn khí và/hoặc dịch. Diện tích của vùng đông đặc tương ứng với cấu trúc tuyến hoặc tiểu phế quản; điều này được quan sát thấy ở 43% các trường hợp. Vùng xung quanh nang tổn thương mỏng dần và thấp hơn phổi lành tượng trưng cho các nang nhỏ hòa lẫn vào với nhu mô phổi lành; đặc điểm này được thấy ở 29% các trường hợp trên CT.
Tóm lại, dị dạng đường dẫn khí bẩm sinh của phổi là dị tật bẩm sinh có thể được phát hiện vào khoảng tuần 25 của thai kỳ thông qua siêu âm thai. Cha mẹ có thể thực hiện tầm soát dị tật này bằng cách thăm khám sức khỏe thai kỳ thường xuyên, đặc biệt thời điểm 3 tháng giữa thai kỳ là thời kỳ phát triển mạnh của thai nhi. Thai phụ cần:
- Tầm soát dị tật thai nhi toàn diện bằng kỹ thuật siêu âm 4D vượt trội.
- Tầm soát tiểu đường thai kỳ, tránh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và bé.
- Kiểm soát cân nặng của mẹ hợp lý để đánh giá tình trạng sức khỏe của thai phụ và sự phát triển của thai nhi.
- Hiểu rõ dấu hiệu dọa sinh sớm (đặc biệt ở những người mang đa thai hoặc có tiền sử sảy thai, sinh non) để được điều trị giữ thai kịp thời.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Phân biệt thuốc dạng hỗn dịch và dạng dung dịch
Bác sĩ có thể phân biệt giúp tôi thuốc dạng hỗn dịch và thuốc dạng dung dịch được không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 4228 lượt xem
Trẻ sơ sinh cần kéo tai, nắn chân và dùng lá trầu không vẽ chân mày có đúng không?
Em nghe nói quan niệm dân gian xưa khuyên là trẻ mới sinh ra phải kéo tai cho bé có đôi tai dài, dùng là trầu không vẽ chân mày để lông mày của bé mọc dày và đẹp. Ngoài ra còn phải nắn chân cho chân của bé thẳng nữa thì có đúng không ạ?
- 1 trả lời
- 1983 lượt xem
Trẻ gần 4 tháng tháng tuổi viêm phổi thùy phải dùng kháng sinh, tiêm thuốc an thần và citi phổi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe?
Thưa bác sĩ, bé nhà em được gần 4 tháng tuổi nhưng đã bị viêm phổi thùy, phải nhập viện, bác sĩ đã tiêm 14 mũi kháng sinh. Sau khi nằm viện 1 tuần, bác sĩ khám lại thì thấy phổi bé đã lành, nhưng kết quả chụp phim lại thấy phần trên phổi còn mờ, nghi có khối u trong phổi. Bác sĩ tiếp tục tiến hành citi phổi cho cháu. Kết quả, bé nhà em bị u tuyến ức, bác sĩ kê thuốc prednisdon5mg và aquadetrim, nói về cho bé uống trong vòng 2 tuần thì khối u sẽ hết. Bác sĩ cho em hỏi khối u tuyến ức này có nguy hiểm không ạ? Và việc bé mới 4 tháng tuổi đã tiêm kháng sinh, dùng thuốc an thần và citi phổi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của bé không?
- 1 trả lời
- 1598 lượt xem
Uống xen kẽ hai loại sữa để cho bé trên 1 tuổi tập quen dần với loại sữa mới có ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của bé không?
Bé trai nhà em hiện giờ đang được 12 tháng 10 ngày tuổi. Bé nặng 7,4kg ạ. Lúc sinh bé chỉ nặng 2,4kg. Bé có vẻ trông nhỏ hơn so với các bạn cùng trang lứa, mặc dù bé khỏe, ít ốm ạ. Hàng ngày em cho bé ăn 3 bữa cháo và bú thêm sữa glico dưới 1 tuổi. Mỗi lần bé bú được 110-150ml sữa. Thời gian bé được 6 tháng tuổi thì em phải đi mổ xoắn u nang nên bé phải dừng bú mẹ trong vòng 7 tuần. Em có thử tất cả các loại sữa công thức cho bé và phát hiện ra bé bị dị ứng đạm sữa bò. Do uống xong thì bé trớ và người mẩn đỏ ạ. Hiện giờ bé đã hơn 1 tuổi, em muốn đổi sữa Glico cho trẻ hơn 1 tuổi cho bé mà con không chịu uống. Em không biết nên đổi luôn sang sữa khác hay là sẽ uống xen kẽ cả sữa cũ, sữa mới cho bé tập quen dần ạ? Uống xen kẽ thì hệ tiêu hóa của bé có ảnh hưởng gì không ạ?
- 1 trả lời
- 1892 lượt xem
Khi nào bắt đầu cho trẻ dùng thuốc dạng nhai?
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 1,5 tuổi. Bác sĩ cho hỏi, khi nào có thể bắt đầu cho bé dùng thuốc dạng nhai ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1050 lượt xem
Hơn 80% trẻ sơ sinh có một số loại bớt. Một số tồn tại cả đời, trong khi những loại khác mờ dần theo thời gian.
Răng Hutchinson xảy ra do trẻ bị lây truyền bệnh giang mai khi còn trong bụng mẹ hoặc trong khi sinh.
Các khuyết tật tim bẩm sinh sẽ làm thay đổi dòng chảy thông thường của máu qua tim. Có nhiều dạng khuyết tật tim bẩm sinh, bao gồm từ các khiếm khuyết đơn giản không có triệu chứng đến các khiếm khuyết phức tạp với các triệu chứng nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng.
Viêm phổi có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng thường xuất hiện vào mùa đông và mùa xuân, thường là sau khi bị nhiễm trùng hô hấp trên hoặc cảm lạnh. Nếu bạn cho rằng con của bạn có thể bị viêm phổi, hãy cho bé đi khám bác sĩ ngay.
Christine Duenas đã mất đứa con của mình khi cô mang thai được 39 tuần và 3 ngày. Cô ấy đã lâm bồn, nhưng sau đó đã có sự cố khủng khiếp xảy ra. Trước khi chào đời, con bé đã chết.





