Chăm sóc và điều trị bệnh thủy đậu
1. Đại cương
Bệnh thuỷ đậu là bệnh nhiễm trùng cấp tính do virus Varicella Zoster (VZV) gây ra. Bệnh rất dễ lây qua đường hô hấp do hít phải những giọt nước bọt bắn ra từ người bệnh. Thường gặp vào mùa đông xuân, chủ yếu là trẻ dưới 10 tuổi.
Bệnh đặc trưng bởi phát ban dạng bọng nước ở da và niêm mạc. Thường diễn biến lành tính nhưng cũng có thể gây tử vong khi biến chứng viêm não, hội chứng Reye.
VZV gây bệnh theo hai cách khác nhau trên lâm sàng là thuỷ đậu và Zona. Thuỷ đậu xuất hiện ở người chưa có miễn dịch. Zona là trạng thái tái hoạt động của một trạng thái nhiễm trùng tiềm tàng gặp điều kiện thuận lợi như chấn thương, ung thư, suy giảm miễn dịch.
2. Biểu hiện lâm sàng
2.1 Thời kỳ ủ bệnh
Từ 10 – 21 ngày. Trung bình 14 -17 ngày.
2.2 Thời kỳ khởi phát
Khoảng 24 - 48 giờ, bệnh nhân sẽ có những triệu chứng như:
- Sốt nhẹ, có thể không sốt. Trẻ suy giảm miễn dịch thường sốt cao, khi có sốt cao nói lên tình trạng nhiễm trùng nặng.
- Mệt mỏi, chán ăn, nhức đầu.
- Phát ban, khởi đầu là những hồng ban nổi gờ trên da, kích thước vài mm. Tồn tại khoảng 24 giờ trước khi chuyển thành bóng nước.
2.3 Thời kỳ toàn phát
Thời kỳ toàn phát, bé sẽ giảm sốt. Trường hợp sốt cao thường do có bội nhiễm.
Hồng ban nhanh chóng chuyển thành bọng nước trong vòng 24 giờ. Trên da nổi bóng nước tròn trên nền viền da màu hồng. Đường kính 3-13 mm. Thường < 5 mm. Lúc đầu chứa dịch trong, sau 24 giờ hoá đục, nhiều lứa tuổi (có bọng nước mới mọc xen kẽ bọng đã hóa đục và bọng đã đóng mày hay bong vảy. Bọng nước xuất hiện ở da đầu, thân người sau đó lan ra tay chân, có đau, ngứa. Bọng nước có thể trên niêm mạc đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hoá, sinh dục.
2.4 Thời kỳ hồi phục
Sau 1 tuần, bọng nước đóng vảy rồi bong, thường không để lại sẹo.
2.5 Các biến chứng thường gặp
- Viêm mô tế bào do bội nhiễm liên cầu – tụ cầu: Bọng nước hóa mủ, đỏ da, sưng tấy xung quanh bóng nước, viêm mô tế bào, tạo ổ áp xe. biểu hiện nhiễm trùng nhiễm độc, có thể gây nhiễm trùng huyết.
- Viêm não: Sốt cao, đau đầu, rối loạn tri giác, co giật, hôn mê
- Viêm tủy, Guillain- Barre: yếu chi
- Hội chứng Reye: nôn nhiều, hôn mê hạ Glucose máu
- Biến chứng khác: Viêm cơ tim, viêm giác mạc, viêm khớp, viêm phổi, viêm cầu thận.
3. Chẩn đoán
3.1. Chẩn đoán xác định
Dựa vào lâm sàng và dịch tễ: chưa tiêm phòng thuỷ đậu, có tiếp xúc với người bị thuỷ đậu trong vòng 3 tuần.
Lâm sàng có bọng nước nhiều lứa tuổi ở da và niêm mạc.
3.2 Chẩn đoán phân biệt
- Chốc lở, nhiễm trùng da: thường các mụn mủ tập trung từng vùng, cùng tuổi,có đau
- Bệnh tay chân miệng: ban ở vị trí đặc biệt (lòng bàn tay, chân, gối, mông...). Bọng nước nhỏ hơn, không đau, không ngứa
- Tổn thương do Herpes simplex: dựa vào phân lập virus
4. Điều trị
4.1 Nguyên tắc
- Điều trị đặc hiệu;
- Điều trị triệu chứng;
- Phát hiện và điều trị biến chứng.
4.2 Tiêu chuẩn nhập viện
Cho bé nhập viện khi bé thuộc một trong các tình huống sau:
- Sốt cao liên tục, khó hạ, có các dấu hiệu bệnh nặng hoặc nghi ngờ có biến chứng;
- Trẻ sơ sinh dưới 1 tháng tuổi;
- Cơ địa suy giảm miễn dịch: HIV/AIDS, đang dùng Corticoid;
- Sang thương quá nhiều;
- Nghi ngờ nhiễm trùng huyết: Sốt cao, mệt, lừ đừ, vẻ mặt nhiễm trùng.
4.3 Điều trị đặc hiệu
Acyclovir đường uống:
- Hiệu quả cao nếu điều trị sớm trong 24 giờ đầu sau khi khởi phát.
- Liều uống: 80 mg/kg/ngày chia làm 4 lần. (tối đa 800 mg/lần).
- Thời gian điều trị: 5 ngày hoặc đến khi không xuất hiện thêm bóng nước mới
- Lưu ý: Nếu bệnh tự ổn định trong 48 giờ thì có thể không dùng Acyclovir (ngoại trú)
- Chỉ định dùng Acyclovir trong điều trị ngoại trú:
+ Chỉ định cho trẻ > 12 tuổi
+ Trẻ ≤ 12 tuổi, không suy giảm miễn dịch, tiền sử khỏe mạnh, bệnh tự ổn định trong 48 giờ có thể không cần điều trị Acyclovir trừ khi có một trong các yếu tố sau:
Tái nhiễm lần 2
Có tiền sử bệnh về da hoặc bệnh tim phổi mãn
Thường xuyên dùng Steroid đường uống hoặc hít
Dùng Salicylate kéo dài tăng nguy cơ hội chứng Reye
Acyclovir đường tĩnh mạch:
Trẻ suy giảm miễn dịch hoặc có biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não – màng não, viêm gan nặng, giảm tiểu cầu... Điều trị càng sớm càng tốt khi nổi những mụn nước đầu tiên.
Liều dùng: 10 mg/kg/lần X 3 lần/ngày, trong 7 đến 10 ngày
Kháng thể kháng Varicella Zoster (nếu có):
Chỉ định:
- Bệnh nhân suy giảm miễn dịch chưa tiêm phòng Thuỷ đậu
+ Bệnh bạch cầu cấp hoặc Lymphoma
+ Suy giảm miễn dịch do thuốc (hóa trị, sử dụng Steroid liều cao >14 ngày)
+ Suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải
- Trẻ sơ sinh có mẹ bị Thuỷ đậu 5 ngày trước sinh đến 2 ngày sau sinh
- Trẻ sinh non phơi nhiễm VZV:
+ ≥ 28 tuần thai và mẹ chưa tiêm phòng Thuỷ đậu
+ < 28 tuần thai hoặc cân nặng lúc sinh ≤ 1000g
- Liều VZIG (tiêm bắp) theo cân nặng
| Cân nặng | Liều |
| ≤ 10 kg | 200 IU |
| > 10 kg | 400 IU |
| > 30 kg | 600 IU |
- Nếu không có VZIG có thể dùng IVIG, liều 0,4 g/kg thay thế ở những trường hợp trên hoăc những trường hợp Thuỷ đậu rất nặng, ảnh hưởng sinh tồn.
4.4 Điều trị hỗ trợ
- Giảm ngứa bằng các thuốc kháng Histamin
- Giảm đau, hạ sốt bằng Paracetamol không được dùng Aspirin
Điều trị hỗ trợ khác
- Vệ sinh da hàng ngày, chấm xanh methylen vào các tổn thương da
- Mặc quần áo kín, cắt sạch đầu móng tay
4.5 Dấu hiệu nặng cần khám ngay
- Bọng nước nổi toàn thân
- Bọng nước hóa mủ và tấy đỏ xung quanh
- Sốt cao không hạ
- Mệt, lừ đừ, bỏ ăn
- Co giật, yếu chi
4.6. Hướng dẫn chăm sóc tại nhà
- Vệ sinh cơ thể hàng ngày bằng nước sạch. Tuyệt đối không kiêng tắm
- Không kiêng ăn
- Nghỉ học 7 đến 10 ngày
- Tránh tiếp xúc với người xung quanh, đặc biệt là phụ nữ mang thai
- Nên mang khẩu trang.
4.7 Chăm sóc tại bệnh viện
- Cách ly khu vực riêng (Phòng áp lực âm nếu có), thời gian cách ly 7 – 10 ngày từ khi bắt đầu có ban phỏng đến khi ban phỏng khô
- Người bệnh đeo khẩu trang
- Vệ sinh da, răng miệng, chấm xanh methylen, castellani vào các nốt phỏng, tránh gãi
- Vệ sinh phòng bệnh, xử lý đồ vải, tư trang đúng quy định
- Theo dõi tiến triển của ban phỏng, mật độ, màu sắc, tình trạng nhiễm trùng của ban (mủ, dịch vàng, tấy đỏ ...)
5. Phòng bệnh
5.1 Vắc-xin phòng bệnh đặc hiệu (Vắc-xin sống giảm độc lực)
- Chỉ định phòng cho trẻ 12 - 18 tháng tuổi. Nếu trong nhà có người bị thuỷ đậu có thể tiêm từ 9 tháng tuổi. Nhắc lại liều thứ 2 lúc 5 đến 6 tuổi hoặc cách liều thứ nhất 3 tháng.
- Người lớn tiêm 2 liều, cách nhau 1 tháng.
5.2 Biện pháp phòng ngừa khác
Tránh tiếp xúc với người bị thuỷ đậu, rửa tay thường xuyên.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Trẻ 1 tháng 10 ngày tuổi vặn mình, khó ngủ và khóc lên mỗi khi đi ngoài cần chăm sóc thế nào?
Hiện nay, bé nhà em được 1 tháng 10 ngày tuổi. Lúc sinh bé nặng 3,2kg, hiện giờ là 4,2kg. Bé nhà em rất khó ngủ, hay vặn mình và khóc suốt đêm, ban ngày cũng hay khóc. Bé còn khó đi ngoài nên em có cho bé đi khám thì bác sĩ chỉ khuyên là điều chỉnh chế độ ăn của mẹ. Em đã ăn nhiều rau xanh và đồ mát nhưng tình hình của bé vẫn không được cải thiện. Ngày bé đi được khoảng 2-3 lần, sôi ruột, bé thường xì hơi nhiều, vặn mình, khó chịu rặn đỏ hết cả mặt lên. Mỗi lần đi tiêu bé phải rặn rất lâu và khóc lên mới đi được. Em cũng có mát xa bụng cho bé nhưng không đỡ. Mong bác sĩ cho biết có phải bé nhà em bị táo bón hay không và bác sĩ có thể tư vấn cách chăm sóc, chữa trị để bé dễ chịu hơn không ạ?
- 1 trả lời
- 2721 lượt xem
Có nên vừa uống thuốc điều trị đau dạ dày, nhiễm khuẩn amíp, virut HP và sán lá gan vừa cho con bú không?
Khi em sinh bé được 25 ngày thì bị nổi mề đay. Em có đi khám thì bác sĩ kết luận em bị đau dạ dày, nhiễm khuẩn amíp, virut HP và sán lá gan. Em được bác sĩ kê các loại thuốc: Tricabendazole, Esomeprazol 40mg (ezdixum), Metronidazol 250mg ( incepdazol 250), Drotaverin 80mg ( Drotusc forte), Levocetirizin 10mg ( Ripratine) và Arginin HCL 500mg (Entraviga). Bác sĩ nói chỉ có Tricabendazole sau khi uống 24h mới được cho bé bú. Còn lại các thuốc khác không ảnh hưởng gì, vẫn có thể cho bé bú bình thường. Tuy nhiên, em về tìm hiểu thì thấy những thuốc này khi đang cho con bú đều không khuyến khích mẹ dùng. Em uống thuốc đã được 2 ngày và cho bé bú bằng sữa công thức. Em rất muốn cho bé bú hoàn toàn bằng sữa mẹ, nên có vắt ra để sau 20 ngày uống thuốc xong sẽ cho bé bú lại. Nhưng càng ngày em thấy sữa càng ít, vắt cũng không được nhiều. Nhiều người làm bên dược thì khuyên em nên dừng uống thuốc, khi nào bé bỏ bú hãy điều trị. Giờ em không biết phải làm thế nào ạ? Bé uống sữa công thức morinaga nhập khẩu thì 3 ngày mới thấy đi ị, mỗi lần đi là rặn đỏ mặt, phân đặc, lọn không cứng. Bé hay đạp tay chân, gồng người lên khi ngủ thì có phải thiếu chất không ạ?
- 0 trả lời
- 1034 lượt xem
Trẻ hơn 4 tháng tuổi chưa biết với đồ trước mặt, chưa biết quay mặt lại khi mẹ gọi có phải là dấu hiệu của chậm phát triển trí tuệ không?
Hiện bé nhà em đã được 4 tháng 10 ngày tuổi. Nhưng không hiểu sao bé chưa biết quay mặt lại khi nghe mẹ gọi, chưa đòi khi mẹ đi quá, cũng không ê a trò chuyện mà chỉ cười khi mọi người trêu đùa, bé cũng chưa biết với tay để lấy đồ trước mặt ạ. Bé nhà em có những biểu hiện như vậy có phải là dấu hiệu của chậm phát triển trí tuệ không ạ?
- 1 trả lời
- 2764 lượt xem
Tại sao bé 1 tuần tuổi có vùng da 2 bên bẹn bị sạm đen lại? Cách điều trị ra sao?
Bé gái nhà em mới sinh được 1 tuần tuổi. Khi thay tã cho con, em phát hiện ra ở 2 bên bẹn của bé có 2 mảng da bị sạm đen lại. Tại sao bé lại bị sạm đen thế ạ? Và có cách gì để điều trị cho bé không ạ?
- 1 trả lời
- 1898 lượt xem
Trẻ gần 4 tháng tháng tuổi viêm phổi thùy phải dùng kháng sinh, tiêm thuốc an thần và citi phổi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe?
Thưa bác sĩ, bé nhà em được gần 4 tháng tuổi nhưng đã bị viêm phổi thùy, phải nhập viện, bác sĩ đã tiêm 14 mũi kháng sinh. Sau khi nằm viện 1 tuần, bác sĩ khám lại thì thấy phổi bé đã lành, nhưng kết quả chụp phim lại thấy phần trên phổi còn mờ, nghi có khối u trong phổi. Bác sĩ tiếp tục tiến hành citi phổi cho cháu. Kết quả, bé nhà em bị u tuyến ức, bác sĩ kê thuốc prednisdon5mg và aquadetrim, nói về cho bé uống trong vòng 2 tuần thì khối u sẽ hết. Bác sĩ cho em hỏi khối u tuyến ức này có nguy hiểm không ạ? Và việc bé mới 4 tháng tuổi đã tiêm kháng sinh, dùng thuốc an thần và citi phổi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của bé không?
- 1 trả lời
- 1763 lượt xem
Hầu hết các chuyên gia đều khuyên bé nên tiêm phòng vắc xin thủy đậu, và nhiều trường học cũng như trung tâm giữ trẻ cũng yêu cầu điều này. Dưới đây là một số lý do.
Sốc phản vệ xảy ra khi hệ thống miễn dịch nhầm lẫn, phản ứng với một chất vô hại như thể nó là một mối đe dọa nghiêm trọng. Điều này kích hoạt cơ thể giải phóng histamin và các hóa chất khác, gây ra một số triệu chứng - một số trong đó có thể đe dọa tính mạng.
Thai chậm tăng trưởng trong tử cung có nguy cơ tử vong cao do lượng oxy và chất dinh dưỡng trong tử cung thấp. Điều quan trọng là cần thực hiện thăm khám đầy đủ và theo dõi thai kỳ cẩn thận, phát hiện sớm và có các biện pháp can thiệp kịp thời.
Nếu bé phải chịu đựng những mảng chàm đỏ, ngứa thì tất cả những gì bạn muốn là giúp bé có thể giảm bớt khó chịu. Chăm sóc đúng cách cho làn da của bé và tránh các nguyên nhân thông thường, có thể giúp làm dịu làn da bị kích thích và ngăn ngừa bùng phát.
Đưa vi khuẩn vào cơ thể để tạo miễn dịch - ý tưởng chính từ việc tiêm chủng – dường như có vẻ là một ý tưởng hiện đại, nhưng thực tế nó đã trải qua hàng thế kỷ. Lịch sử thú vị của bệnh đậu mùa đã tiết lộ khoảng thời gian áp dụng ý tưởng tuyệt vời này.





