Cách nhận biết và điều trị bệnh viêm niệu đạo không do lậu
1. Bệnh viêm niệu đạo không do lậu là gì?
Niệu đạo là ống nối dài từ bàng quang đến lỗ sáo giúp đưa nước tiểu ra ngoài. Ở nam giới bộ phận này còn có vai trò dẫn tinh dịch ra ngoài. Viêm niệu đạo là bệnh nhiễm trùng đường tiểu do vi khuẩn, vi trùng gây ra. Viêm niệu đạo không do lậu (NGU) còn được gọi là viêm niệu đạo không đặc hiệu, được biết đến là một điển hình của bệnh viêm niệu đạo không phải do vi khuẩn lậu gây ra mà chủ yếu xuất phát từ vi khuẩn Chlamydia. Đây là căn bệnh lây truyền qua đường tình dục khá phổ biến nhưng có thể hạn chế được bằng các biện pháp quan hệ tình dục an toàn. Vẫn có những trường hợp nam giới mắc cả viêm niệu đạo lậu cầu và viêm niệu đạo không do lậu cùng một lúc.
2. Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân hình thành bệnh viêm niệu đạo không do lậu:
- Do sự tấn công của vi khuẩn vào niệu đạo
- Bao quy đầu bị dài và hẹp
- Nam giới có thói quen quan hệ tình dục phóng khoáng
- Vệ sinh bộ phận sinh dục không đúng cách.
- Chấn thương, phẫu thuật ống bàng quang và đầu dương vật, sự thu hẹp của niệu đạo
- Nam giới mắc các bệnh xã hội
- Tác dụng phụ của việc đặt ống thông tiểu sau phẫu thuật
- Tác dụng phụ của các hóa chất có trong xà bông, dung dịch vệ sinh vùng kín
Trong đó, nhiễm Chlamydia Trachomatis (30-50%) và Ureaplasma Urealyticun (10-40%) chiếm khoảng một nửa số trường hợp viêm niệu đạo không do lậu. Chlamydia là một loại vi khuẩn thường xuất hiện khi quan hệ tình dục không an toàn với người bị nhiễm. Chlamydia có thể lây truyền trong quá trình quan hệ tình dục đường âm đạo, hậu môn hay miệng.
Ngoài ra, các loại vi khuẩn khác như Herpes Simplex và Trichomonas Vaginalis, Mycoplasma genitalium, Candida albicans, Streptococcus, Staphylococcus saprophyticus, Escherichia coli...cũng là các tác nhân có nguy cơ gây ra bệnh.
3. Triệu chứng nhận biết bệnh
Thời gian ủ bệnh viêm niệu đạo không do lậu thường từ 10-20 ngày sau khi tiếp xúc. Tuy có nhiều trường hợp không gặp bất cứ triệu chứng nào nhưng đa phần mọi người sẽ có những triệu chứng điển hình như:
- Niệu đạo đau, sưng, tấy đỏ, dễ bị kích thích
- Nước tiểu nóng, đôi khi lẫn mủ, máu. Gặp khó khăn khi đi tiểu
- Đau rát, khó chịu khi quan hệ tình dục
- Lỗ niệu đạo xuất hiện dịch nhưng ít và thưa, có mùi hôi khó chịu.
- Có thể có biểu hiện sốt, buồn nôn hoặc nôn.
Hầu hết các bệnh nhân đến bệnh viện khi có biểu hiện một vài triệu chứng nhưng cũng có đến 50% bệnh nhân quan hệ tình dục với đối tác mắc bệnh Chlamydia mà không thể hiện bất cứ triệu chứng nào.
4. Các biện pháp chẩn đoán
Để chẩn đoán người bệnh có nhiễm viêm niệu đạo không do lậu hay không, các bác sĩ sẽ dựa trên một số thông tin từ người bệnh như:
- Tiền sử quan hệ tình dục (an toàn hoặc không an toàn, mức độ nguy cơ..)
- Có xuất hiện chảy mủ, dịch niệu đạo hay không?
- Tình trạng khi đi tiểu (nóng rát hay tiểu buốt)?
Ngoài ra, bác sĩ có thể thực hiện soi và cấy dịch niệu đạo để nhận biết loại vi khuẩn, nấm gây bệnh để từ đó kê thuốc điều trị hợp lý.
- Soi dịch niệu đạo: đánh giá mật độ bạch cầu, nhận biết loại vi khuẩn, nấm.
- Cấy dịch niệu đạo hoặc nước tiểu đầu bãi: nhận biết vi khuẩn, nấm.
Riêng với vi khuẩn Chlamydia, việc chẩn đoán có thể dựa vào phản ứng huyết thanh dương tính vì việc nuôi cấy thường khó khăn.
5. Điều trị viêm niệu đạo không do lậu
Tùy vào từng tác nhân gây bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định các thuốc điều trị khác nhau. Thông thường người bị viêm niệu đạo không do lậu sẽ được các bác sĩ chỉ định thuốc kháng sinh để điều trị.
5.1 Trường hợp nhiễm Chlamydia và Mycoplasma
- Lựa chọn sử dụng một trong các thuốc Azithromycin, Doxycycline, Ofloxacin, Erythromycin. Ưu tiên cho Doxycycline và Azithromycin.
- Điều trị cho cả người bệnh lẫn đối tác quan hệ tình dục.
5.2 Trường hợp nhiễm Trichomonas
- Dùng Metronidazol 500mg /lần, uống 2 lần/ngày, dùng liên tục trong 7 ngày.
- Điều trị cho cả người bệnh lẫn đối tác quan hệ tình dục.
5.3 Trường hợp nhiễm viêm niệu đạo do nấm
- Viêm niệu đạo do nấm thường ít gặp (do nấm Candida Albicans thường gặp ở bệnh viêm âm đạo). Tuy nhiên nếu mắc phải thì có thể lựa chọn Fluconazole hoặc Itraconazole và lưu ý theo dõi chức năng gan, thận khi sử dụng.
5.4 Trường hợp nhiễm viêm niệu đạo do vi khuẩn thông thường
- Lựa chọn một trong các thuốc trong nhóm kháng sinh Fluoroquinolon, Trimethoprim Sulfamethoxazole, Beta Lactam với liệu trình ngắn từ 3 - 5 ngày.
- Giữ gìn vệ sinh bộ phận sinh dục và điều trị phối hợp viêm âm đạo.
Nhìn chung khi điều trị viêm niệu đạo không do lậu, nam giới cần chú ý những điều dưới đây:
- Nên sử dụng một đơn thuốc duy nhất
- Dùng thuốc ứng với nguyên nhân gây bệnh
- Để bạn tình cùng điều trị
- Ngưng sử dụng thuốc kích thích và quan hệ tình dục
- Tuân thủ quy trình trị liệu tương xứng
Viêm niệu đạo nói chung nếu để lâu không trị dứt điểm sẽ có những biến chứng khó lường như suy thận mạn tính, viêm tuyến tiền liệt, viêm tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn, viêm bàng quang, vô sinh.., do đó những nguy cơ của viêm niệu đạo tuyệt đối không được coi thường. Cần phát hiện sớm, điều trị sớm, một khi cơ thể có dấu hiệu bất thường cần tới ngay bệnh viện để kiểm tra xác thực, tránh bỏ lỡ thời điểm điều trị tốt nhất.
6. Bí quyết phòng tránh bệnh hiệu quả
- Uống đủ nước để rửa bàng quang: Việc uống đủ nước (2-2,5l/ngày) có thể giúp cho hệ tiết niệu tăng cường bài tiết nước tiểu, từ đó loại bỏ vi khuẩn trong bàng quang, đường tiết niệu, đẩy lùi nguy cơ viêm niệu đạo. Ngoài ra các loại nước lợi tiểu như trà, các loại nước trái cây có tính axit cũng là lựa chọn tốt để giúp tăng tiểu.
- Nâng cao sức đề kháng: Sinh hoạt điều độ, ăn ngủ nghỉ đúng giờ, thường xuyên tập thể dục, ăn nhiều rau xanh và bổ sung vitamin cho cơ thể. Nhằm mục đích nâng cao sức đề kháng tự thân khỏi sự xâm nhập của các vi khuẩn bên ngoài.
- Quan hệ an toàn, chung thủy: cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh cũng như giảm nguy cơ tái phát là quan hệ tình dục an toàn, sử dụng bao cao su, chung thủy một vợ một chồng. Đồng thời chủ động kiểm tra sức khỏe định kỳ để có thể phát hiện bệnh càng sớm càng tốt.
- Chú ý vệ sinh cá nhân: Nên vệ sinh cá nhân, tắm rửa thường xuyên. Hạn chế tắm bồn để tránh vi khuẩn trong nước bẩn xâm nhập vào niệu đạo. Không sử dụng chung đồ lót, nên dùng khăn và chậu riêng khi vệ sinh bộ phận sinh dục.
- Chọn đồ lót sợi cotton khô thoáng: Đồ lót sợi tổng hợp, pha nilon thường khiến cho bộ phận sinh dục trong tình trạng nóng ẩm, bí khí, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, nên thay đồ lót thành thành phần làm từ sợi cotton khô thoáng hơn.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Đã từ lâu, xông hơi trị cảm được nhiều người, nhiều thế hệ sử dụng như một biện pháp giải cảm và phòng ngừa bệnh cảm cúm. Tuy nhiên, không phải lúc nào biện pháp xông hơi trị cảm cũng nên được sử dụng.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.





