Các yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim
1. Cung lượng tim là gì?
Cung lượng tim là lượng máu mà tim bơm đi trong một đơn vị thời gian nhất định, thường được tính là phút. Bình thường cung lượng tim có thể thay đổi sẽ phụ thuộc vào mức độ hoạt động của cơ thể. Đối với nam giới khỏe mạnh, cung lượng tim khi nghỉ ngơi trung bình khoảng 5,6l/phút. Còn đối với nữ giới khỏe mạnh là khoảng 4,9l/phút. Ngoài ra, cung lượng tim còn thay đổi dựa vào yếu tố tuổi tác.
Cung lượng tim sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động khác nhau và tình trạng sức khỏe riêng ở mỗi người. Tuy nhiên nó chủ yếu bị chi phối bởi 4 yếu tố.
2. Các yếu tố có thể ảnh hưởng tới cung lượng tim
Công thức tính cung lượng tim là bằng thể tích nhát bóp nhân với tần số tim. Trong đó thể tích nhát bóp ảnh hưởng bởi tiền tải, hậu tải và sức co bóp của cơ tim. Ở người lớn khỏe mạnh, thể tích nhát bóp là khoảng 60-90ml/nhát bóp. Như vậy cung lượng tim ảnh hưởng bởi 4 yếu tố gồm: Tần số tim, tiền gánh, hậu gánh và sức co bóp.
2.1 Tần số tim
Tần số tim hay gọi là nhịp tim là số lần tim co bóp tống máu vào động mạch trong một đơn vị thời gian, bình thường tần số tim lúc nghỉ ngơi khoảng 70-80l/ phút. Khi hoạt động, nhu cầu oxy tăng lên thì tần số tim cũng tăng lên để tăng cung lượng tim cung cấp cho mô cơ quan.
Tuy nhiên nếu tần số này quá chậm có thể do một rối loạn nhịp tim gây ra hoặc những người chơi thể thao cường độ lớn kéo dài thì làm giảm cung lượng tim. Như vậy một số thay đổi thất thường về tần số tim rất dễ gây nên nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng, thậm trí tình trạng sốc tim.
Tần số tim được điều hòa bởi hệ thống thần kinh thực vật; hormon; các ion K+, Ca2 + và Na+
2.2 Sức co bóp của tim
Tim co bóp đẩy máu vào động mạch, như vậy nếu sức co bóp của cơ tim nhanh và mạnh thì cung lượng tim tăng, khi tim giảm khả năng co bóp thì cũng làm giảm cung lượng xuống một mức đáng kể. Tuy nhiên trong trường hợp tim co bóp quá sức làm cho cơ thể ở trong tình trạng mệt mỏi, nếu sử dụng thuốc tăng co bóp quá mức, có thể dẫn đến tỷ lệ tử vong.
Tác nhân làm tăng sức co bóp cơ tim bao gồm: Kích thích thần kinh giao cảm, các chất làm tăng Ca2+ nội bào và thuốc như Digitalis.
Tác nhân làm giảm sức co bóp cơ tim gồm: Ức chế hoạt động của thần kinh giao cảm, tình trạng thiếu khí, nhiễm toan chuyển hóa và tăng K+ trong dịch ngoại bào.
2.3 Tiền gánh
Tiền gánh là thể tích máu được đổ đầy vào thất cuối tâm trương, khi tiền gánh càng lớn trong giới hạn nào đó thì sức co rút cơ càng tăng.
Nhưng vậy khi tiền tải tăng tức là lượng máu về tim lớn, thì lượng máu được tim đẩy vào động mạch càng lớn tức là tăng cung lượng tim tăng. Ngược lại khi lượng máu về tim giảm tức là tiền tải giảm.
2.4 Hậu gánh
Hậu gánh là lực cản mà tâm thất phải tác động để tống máu ra ngoài. Nó phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố gồm huyết áp động mạch và trương lực mạch máu.
Khi giảm giảm hậu tải có thể làm tăng cung lượng tim. Đặc biệt trong trường nhưng hợp suy tim, tim đang bị giảm khả năng co bóp. Ngược lại tăng hậu gánh sẽ làm giảm cung lượng tim.
3. Sự thay đổi của cung lượng tim
Cung lượng tim có thể thay đổi tăng giảm do ảnh hưởng bởi các yếu tố.
3.1 Cung lượng tim tăng khi nào?
Cung lượng tim tăng khi tần số tim tăng ở một mức nhất định, tăng sự co bóp cơ tim, tăng tiền gánh và giảm hậu gánh. Một số trường hợp có thể thấy tăng cung lượng tim như:
- Khi cơ thể hoạt động mạnh tăng nhu cầu oxy cho các cơ quan.
- Sốc nhiễm khuẩn, sốc phản vệ.
- Giảm hậu gánh: Dày tâm thất...
- Tăng tiền gánh: Khi xảy ra tình trạng tăng áp lực động mạch chủ, giãn các buồng thất, giãn tĩnh mạch...
3.2 Cung lượng tim giảm khi nào?
- Giảm tiền gánh: Hẹp van hai lá, ba lá; tăng nhịp tim, rối loạn nhịp; suy giảm chức năng tâm trương của thất; sốc giảm thể tích.
- Tăng hậu gánh: Tăng huyết áp, hẹp van động mạch chủ và động mạch phổi, sốc do tắc nghẽn mạch.
Như vậy, cung lượng tim thay đổi khi có sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng tới cung lượng tim. Tuy nhiên trong những bệnh lý tim mạch giai đoạn đầu thương không có sự thay đổi cung lượng tim nhiều vì các cơ chế bù trừ. Nhưng ở những giai đoạn sau thì sự bù trừ này không còn đủ để đáp ứng nên gây ra thay đổi cung lượng tim.
Tập thể dục là “liều thuốc tốt” để kiểm soát huyết áp, nếu tập thể dục thường xuyên huyết áp sẽ dần trở về bình thường và giúp cơ thể khỏe mạnh. Tập gym là hình thức tập thể dục, vậy người bị cao huyết áp có nên tập gym?
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất hiện nay và có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi. Khoảng 4% trường hợp rung nhĩ xảy ra ở các bệnh nhân tuổi 8% bệnh nhân độ tuổi 80 trở lên có rung nhĩ.
Đặt stent trong nhồi máu cơ tim là thủ thuật ngoại khoa được áp dụng trong điều trị tim mạch. Đặt stent được chỉ định với trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, mạch vành bị tắc hẹp nặng không đáp ứng tốt với điều trị của thuốc.
Nhồi máu cơ tim hay bệnh động mạch vành cấp tính là một bệnh lý nguy hiểm thường gặp ở người cao tuổi. Tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch vẫn còn cao dù đã có xu hướng giảm so với trước đây. Hiện nay có 5 type nhồi máu cơ tim khác nhau và hay gặp nhất là nhồi máu cơ tim type 1.
Siêu âm tim là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, an toàn và được sử dụng rất phổ biến trong xác định những bất thường của tim.
Một số nghiên cứu mới cho thấy gen APOE4 có thể khiến một số người dễ bị cholesterol cao hơn người bình thường.
Statin là một nhóm thuốc được dùng cho những người bị cholesterol máu cao. Nhóm thuốc này tác động đến quá trình sản xuất cholesterol trong gan và từ đó giúp làm giảm nồng độ LDL cholesterol (cholesterol xấu) trong máu.
Bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở cả nam giới và nữ giới. Dựa trên kết quả của một số nghiên cứu dài hạn, các nhà khoa học đã xác định được các yếu tố chính có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch hoặc nhồi máu cơ tim. Việc biết được những yếu tố nguy cơ của bản thân sẽ giúp bạn xác định những bước cần thực hiện để giảm nguy cơ mắc bệnh.
Bệnh cơ tim phì đại (HCM) xảy ra khi tim khó có thể bơm máu bình thường do cơ tim bị dày lên và phì đại. Tình trạng này có thể làm cản trở dòng máu chảy ra khỏi tâm thất, dẫn đến các biến chứng nếu không được điều trị.
Khi nhắc đến tác hại của mất ngủ, chắc hẳn bạn sẽ nghĩ ngay đến tình trạng buồn ngủ và uể oải vào ban ngày. Đó là những tác hại xảy ra đầu tiên và có thể nhìn thấy rõ nhất nhưng mất ngủ không chỉ gây ra những vấn đề như vậy. Theo thời gian, tình trạng mất ngủ kéo dài còn gây ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng trong cơ thể, bao gồm cả tim và mạch máu. Mất ngủ có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về tim mạch.





