Bác sĩ tim mạch chỉ rõ dấu hiệu đột quỵ cần đưa bệnh nhân cấp cứu ngay lập tức - Bệnh viện Bạch Mai
Ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng 200.000 người bị đột quỵ, trong đó có đến 50% số ca đột quỵ diễn biến xấu đi và tử vong. Tuy nhiên nhiều người chưa biết rằng, đột quỵ là bệnh có thể cấp cứu, “thời gian vàng” để xử trí đột quỵ trong vòng 3-4 giờ đầu, bệnh nhân đột quỵ cần phải nhập viện càng sớm càng tốt để được đánh giá nhanh và điều trị kịp thời.
Tại Viện Tim mạch Quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận rất nhiều bệnh nhân đột quỵ. Song điều đáng nói là đa số các ca nhập viện đều muộn nên việc điều trị hạn chế, di chứng kéo dài.
Biểu hiện đột quỵ rất đơn giản, người dân có thể nhận biết được. Các dấu hiệu này được tóm tắt bằng chữ F.A.S.T gồm:
- F (Face): Đầu tiên là biến đổi ở mặt, bệnh nhân có thể liệt mặt, méo miệng, nhân trung lệch đi, biểu hiện rõ khi bệnh nhân cười, nhe răng.
- A (Arm): Yếu liệt tay chân. Đánh giá bệnh nhân có bị yếu hoặc liệt một bên hay không bằng cách yêu cầu bệnh nhân đưa hai tay lên cao. Bệnh nhân không nâng tay lên được, nếu nâng được cũng rất khó.
- S (Speech): Ngôn ngữ bất thường, nói khó.
- T (Time): Khi xuất hiện bất kỳ các triệu chứng trên một cách đột ngột hãy nhanh chóng gọi cấp cứu 115, đưa bệnh nhân đến bệnh viện có điều trị đột quỵ gần nhất.
Cần cấp cứu ngay trong 3-4 giờ đầu sau cơn đột quỵ
Điều trị
PGS. Cường cho hay, khi bệnh nhân được đưa đến cơ sở y tế có điều trị đột quỵ, các bác sĩ sẽ xác định trường hợp bệnh nhân đó là nhồi máu não tắc mạch do huyết khối hay chảy máu não.
Nếu nhồi máu não tắc mạch:
Bệnh nhân sẽ được dùng thuốc tiêu sợi huyết làm tan cục huyết khối, dòng chảy trong mạch máu trở lại bình thường, tổ chức não sau cục tắc được tưới máu trở lại. Bệnh nhân dần hồi phục và sau đó sẽ tập phục hồi chức năng, có thể khỏe mạnh, sinh sống bình thường.
Trường hợp cục khuyết khối ở vị trí không tiêu được nhưng thuận lợi để hút được cục máu ra thì bác sĩ sẽ hút ra để dòng chảy máu bình thường.
Với bệnh nhân đột quỵ chảy máu não
Nếu do dùng thuốc chống đông quá liều sẽ có thuốc điều trị đặc hiệu tương ứng làm cho tình trạng đông máu trở về bình thường. Những vị trí chảy máu sẽ được dẫn lưu ổ chảy máu ra ngoài hoặc lấy khối máu tụ đi để não không bị ép nữa, phần nhu mô não tranh chấp sống và chết hoạt động bình thường, sau đó dùng dụng cụ nút lại để không cháy máu nữa.
Hoặc trường hợp siêu âm doppler mạch thấy hẹp động mạch cảnh gây thiếu máu não thì bác sĩ có thể đặt stent giúp lòng mạch thông thoáng, không đọng lại mảng vữa xơ đó. Hoặc có thể bóc tách lớp nội mạc đó đi để dòng máu bình thường.
Y học hiện nay có nhiều tiến bộ trong điều trị đột quỵ, kết hợp y học hiện đại và YHCT nhưng PGS. Cường nhấn mạnh quan trọng nhất là vấn đề thời gian: “Bệnh nhân đột quỵ cần được đưa vào viện sớm, cấp cứu trong vòng 3-4 giờ đầu để tránh nguy hiểm tính mạng và hạn chế các di chứng về sau. Tuyệt đối không dùng các cách chữa bệnh theo truyền miệng khiến bệnh nặng thêm, mất “giờ vàng” điều trị.
Trải qua giai đoạn điều trị tích cực, bệnh nhân sẽ được tập phục hồi chức năng sớm, vận động sớm, điều trị kết hợp đông y – tây y, dùng thuốc, ngoài ra, người bệnh cần được hỗ trợ về mặt tâm lý…”.
Khuyến cáo của bác sĩ
Những người mắc bệnh lý tim mạch cần được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt là ở bệnh nhân van tim, van 2 lá, hẹp hở van 2 lá là đối tượng dễ đột quỵ, và có thể gây đột quỵ ở bất kỳ độ tuổi nào cho nên cần được thăm khám tỉ mỉ, thường xuyên theo hẹn của bác sĩ.
Người dân không nên hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia, tuyệt đối không dùng các chất cấm như cocain vì đây là những thứ dễ gây tổn thương lòng mạch. Muốn phòng tai biến mạch máu não thì cần phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ ấy.
Với nnhững người không có yếu tố nguy cơ thì cần chú ý tiền sử gia đình có người mắc đột quỵ hoặc có các yếu tố nguy cơ về tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… thì nên tầm soát sớm.
Nguồn tham khảo: Bệnh viện Bạch Mai
Viêm mạch hủy bạch cầu (leukocytoclastic vasculitis) là tình trạng viêm các mạch máu nhỏ. Viêm mạch hủy bạch cầu còn được gọi là viêm mạch quá mẫn (hypersensitivity vasculitis). Hủy bạch cầu là quá trình là bạch cầu trung tính (một loại tế bào miễn dịch) phân hủy và giải phóng các mảnh vụn. Viêm mạch hủy bạch cầu có thể do các bệnh lý khác gây ra nhưng cũng có nhiều trường hợp không rõ nguyên nhân.
Nhịp tim lúc nghỉ ngơi trung bình thường dao động từ 60 đến 80 bpm, tuy nhiên, một số vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp đến 30-40 bpm. Nếu bạn là vận động viên hoặc là người thường xuyên tập thể dục, nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp thường không là vấn đề, thậm chí còn là biểu hiện cho trạng thái sức khỏe tốt. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy nhịp tim thấp đi kèm với các triệu chứng khác, như mệt mỏi hoặc chóng mặt.
Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi được xác định chính xác nhất khi ngồi hoặc nằm và ở trạng thái bình tĩnh. Nhịp tim khi nghỉ ngơi trung bình dao động trong khoảng 60 đến 80 nhịp mỗi phút. Vận động viên các môn thể thao sức bền thường có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn so với người bình thường. Một số vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi chỉ 30 đến 40 nhịp mỗi phút.
Dấu hiệu cảnh báo điển hình của đau tim thường là tình trạng đau tức ngực. Tuy nhiên, có thể xuất hiện các dấu hiệu khác như chóng mặt, đau vùng cổ hoặc hàm.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), ước tính mỗi năm có khoảng 805.000 người ở Mỹ bị đau tim.
Đau tim, hay còn gọi là nhồi máu cơ tim, xảy ra khi lưu lượng máu đến tim bị tắc nghẽn. Nếu không đủ máu đến nuôi cơ tim, một phần cơ tim có thể bị tổn thương và hoại tử. Tình trạng này có thể đe dọa đến tính mạng.
Đau ngực là dấu hiệu cảnh báo đau tim phổ biến nhất, nhưng còn có thể kèm theo các dấu hiệu khác như khó thở hoặc chóng mặt. Các triệu chứng này có thể nặng, nhẹ và khác nhau ở từng người.
Đau tim đôi khi bị nhầm lẫn với ợ nóng (heartburn) hoặc cơn lo âu (anxiety attack). Hơn nữa, các triệu chứng có thể khác nhau giữa nam và nữ.
Bài viết này sẽ xem xét kỹ hơn các dấu hiệu cảnh báo của cơn đau tim, cảm giác thường thấy và các triệu chứng có thể khác nhau giữa nam và nữ như thế nào.
Hội chứng mạch vành cấp (Acute Coronary Syndrome – ACS) là một thuật ngữ chung dùng để chỉ các tình trạng đột ngột làm gián đoạn hoặc cản trở hoàn toàn dòng máu đến tim, thường được gọi là nhồi máu cơ tim.





