Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập311
  • Máy chủ tìm kiếm54
  • Khách viếng thăm257
  • Hôm nay6,590
  • Tháng hiện tại1,027,198
  • Tổng lượt truy cập42,880,481

Bệnh herpes gây ra những biến chứng nào?

Đa phần herpes môi không phải vấn đề nghiêm trọng. Các mụn nước và vết loét sẽ tự khỏi mà không cần điều trị. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, herpes ở môi có thể dẫn đến một số biến chứng.

Herpes hay mụn rộp là bệnh do virus herpes simplex (HSV) gây ra. Có hai chủng HSV gây herpes là HSV-1 và HSV-2.

HSV-1 là nguyên nhân chính gây herpes ở môi còn HSV-2 chủ yếu gây herpes sinh dục. Tuy nhiên, HSV-1 cũng có thể gây herpes sinh dục và HSV-2 cũng có thể gây herper môi.

Triệu chứng chính khi bị nhiễm HSV là xuất hiện những tổn thương dạng mụn nước mềm và vết loét ở xung quanh bộ phận sinh dục hoặc miệng.

Cả hai loại virus đều rất dễ lây. Herpes sinh dục là một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục. Herpes môi chủ yếu lây khi tiếp xúc với miệng hay nước bọt của người bệnh.

Khi xuất hiện, các nốt mụn nước sẽ gây đau và ngứa. Sau một vài ngày chúng sẽ vỡ ra, chảy dịch và tạo thành vết loét. Vết loét sẽ đóng vảy rồi bong ra và lành lại.

Vậy bệnh này có nguy hiểm và có dẫn đến biến chứng nào hay không?

Các biến chứng của herpes môi

Hiện chưa có cách chữa trị khỏi bệnh herpes ở môi. Một khi đã bị nhiễm thì HSV sẽ tồn tại trong cơ thể vĩnh viễn.

Triệu chứng herpes xảy ra thành từng đợt. Vào mỗi đợt triệu chứng bùng phát, mụn nước sẽ hình thành và biến mất trong vòng từ 2 - 4 tuần nhưng sau đó có thể tái phát bất cứ lúc nào. Vào khoảng thời gian giữa các đợt bùng phát, virus ở trạng thái không hoạt động nhưng vẫn có thể lây truyền cho người khác nếu tiếp xúc. Điều này cũng đúng với những trường hợp nhiễm HSV nhưng không có triệu chứng hoặc triệu chứng không rõ rệt.

Đa phần herpes môi không phải vấn đề nghiêm trọng. Các mụn nước và vết loét sẽ tự khỏi mà không cần điều trị.

Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, herpes ở môi có thể dẫn đến một số biến chứng. Điều này dễ xảy ra ở những người có hệ miễn dịch suy yếu, ví dụ như người cao tuổi hoặc đang mắc các bệnh mãn tính.

Vấn đề phổ biến nhất có thể xảy ra là mất nước và thiếu hụt dinh dưỡng do các vết loét ở miệng gây đau đớn và cản trở việc ăn uống. Nếu không được khắc phục, mất nước và thiếu hụt dinh dưỡng đều có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn. Do đó, cho dù đau thì hãy cố ăn uống đầy đủ để tránh những vấn đề này.

Một biến chứng hiếm gặp của herpes môi là viêm não. Biến chứng này xảy ra khi virus di chuyển đến não và gây viêm. Nếu không được điều trị, viêm não có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Nhiều trường hợp dù đã được điều trị nhưng vẫn gặp các di chứng về lâu dài.

Các biến chứng nhẹ hơn của bệnh herpes ở môi còn có nhiễm trùng da nếu virus lây lan đến vùng da có vết thương hở. Herpes cũng có thể dẫn đến vấn đề nghiêm trọng nếu mụn nước hình thành trên phạm vi rộng.

Trẻ em bị herpes ở môi có thể bị chín mé do herpes. Điều này xảy ra khi trẻ mút tay, virus ở miệng sẽ bám vào ngón tay và gây nổi mụn rộp.

Nếu HSV lây lan đến mắt thì vùng gần mí mắt sẽ bị sưng và viêm. Nếu virus lan đến giác mạc thì sẽ gây viêm giác mạc do herpes và có thể dẫn đến mù lòa.

Phải thường xuyên rửa tay trong thời gian bùng phát triệu chứng, hạn chế đụng chạm lên vùng tổn thương và đi khám bác sĩ ngay nếu có dấu hiệu nhiễm trùng da hoặc mắt.

Biến chứng của bệnh herpes sinh dục

Tương tự như herpes ở môi, hiện cũng chưa có cách chữa trị khỏi bệnh herpes sinh dục. Tuy nhiên, triệu chứng nổi mụn rộp ở bộ phận sinh dục cũng sẽ tự hết sau vài tuần. Đa số trường hợp thì bệnh này không nguy hiểm nhưng đôi khi vẫn có nguy cơ dẫn đến biến chứng.

Các biến chứng nhẹ của bệnh herpes sinh dục gồm có viêm quanh bàng quang và vùng trực tràng. Vấn đề này gây sưng và đau. Nếu tình trạng sưng tấy gây đau đớn và khó khăn khi đi tiểu thì có thể cần đặt ống thông tiểu.

Viêm màng não là một biến chứng khác của bệnh herpes sinh dục, xảy ra khi virus HSV lây lan trong cơ thể rồi gây viêm ở lớp màng bao quanh não và tủy sống.

Viêm màng não do virus thường là một bệnh không nghiêm trọng và có thể tự khỏi.

Giống như herpes ở môi, herpes sinh dục cũng có thể gây viêm não nhưng khả năng xảy ra rất thấp.

Cuối cùng, herpes sinh dục làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Các mụn nước vỡ ra, tạo thành vết thương hở và tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng khác dễ xâm nhập vào cơ thể.

Herpes sinh dục và các biến chứng khi sinh nở

Mặc dù trong hầu hết các trường hợp thì mụn rộp sinh dục không gây biến chứng nghiêm trọng nhưng ở những phụ nữ bị bệnh này và đang mang thai thì HSV-2 lại gây nguy hiểm cho trẻ sơ sinh

Herpes sơ sinh (neonatal herpes) là một biến chứng rất nghiêm trọng của bệnh herpes sinh dục. Virus lây truyền sang trẻ trong thời gian mang thai hoặc trong khi sinh nở và có thể gây tổn thương não, mù mắt hoặc thậm chí tử vong cho trẻ sơ sinh.

Do đó khi bị herpes sinh dục và mang thai thì sẽ cần điều trị bằng thuốc kháng virus trong thời gian dài để ức chế virus. Ngoài ra, để giảm nguy cơ lây truyền virus sang cho trẻ trong khi sinh thì sẽ cần mổ lấy thai thay vì sinh thường.

Các loại virus herpes khác

HSV-1 và HSV-2 là những chủng virus herpes phổ biến nhưng ngoài ra còn có nhiều chủng khác và những chủng này cũng có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng.

Virus varicella-zoster (HSV-3)

Đây là chủng virus gây ra bệnh thủy đậu và bệnh zona thần kinh (hay còn gọi là giời leo). Phần lớn các trường hợp thủy đậu đều không nguy hiểm nhưng đôi khi, virus phát triển và gây ra các biến chứng đe dọa đến tính mạng, ví dụ như viêm phổi hoặc hội chứng sốc nhiễm độc, đặc biệt là ở những người có hệ miễn dịch suy yếu.

Virus gây bệnh zona thần kinh còn có thể gây viêm não nếu không được điều trị.

Virus Epstein-Barr (HSV-4)

Đây là chủng virus gây ra bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn. Bệnh này thường không nghiêm trọng và một số trường hợp còn không biểu hiện triệu chứng.

Nhưng ở những người bị suy giảm hệ miễn dịch thì tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn có thể dẫn đến viêm não hoặc viêm cơ tim. Virus này cũng có gây u lympho hay ung thư hạch.

Cytomegalovirus (CMV hay HSV-5)

Virus này cũng có thể gây tăng bạch cầu đơn nhân. Ở những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh thì virus thường không gây ra vấn đề. Nhưng ở những người có hệ miễn dịch suy yếu thì sẽ có nguy cơ bị viêm não và viêm phổi.

Cytomegalovirus cũng có thể lây truyền sang trẻ sơ sinh khi mang thai hoặc trong khi sinh. Phụ nữ mang thai bị nhiễm CMV có nguy cơ sinh non và trẻ sơ sinh nhiễm virus này có thể bị những vấn đề như:

  • Động kinh
  • Viêm phổi
  • Chức năng gan kém

Các phương pháp điều trị bệnh herpes

Herpes ở môi và herpes sinh dục đều là những bệnh không thể chữa khỏi nhưng có thể điều trị được triệu chứng.

Biện pháp điều trị chính là dùng thuốc kháng virus. Những loại thuốc này giúp làm giảm tần suất và rút ngắn thời gian của mỗi đợt bùng phát triệu chứng.

Những trường hợp nhẹ chỉ cần dùng thuốc khi bắt đầu xuất hiện triệu chứng nhưng nếu nghiêm trọng thì phải dùng hàng ngày để ngăn ngừa triệu chứng tái phát. Một số thuốc kháng virus phổ biến để điều trị bệnh mụn rộp là acyclovir (Zovirax), valacyclovir (Valtrex), penciclovir (Denavir) và famciclovir (Famvir).

Nếu không điều trị thì các triệu chứng herpes sẽ tự biến mất sau khoảng từ 2 đến 4 tuần. Nếu dùng thuốc kháng virus thì các vết loét sẽ lành lại nhanh hơn.

Ngoài dùng thuốc thì có thể thử chườm mát để giảm sưng và sử dụng các loại thuốc bôi trị mụn rộp không kê đơn để giảm đau và ngứa.

Không tiếp xúc cơ thể trong thời gian đang có mụn rộp để tránh lây truyền virus sang người khác. Thuốc kháng virus cũng có tác dụng giảm nguy cơ lây truyền. Tuy nhiên, virus vẫn có thể lây lan ngay cả khi không có triệu chứng.

Tóm tắt bài viết

Herpes ở môi và herpes sinh dục đa phần không phải vấn đề nghiêm trọng. Chỉ cần dùng thuốc điều trị phù hợp là có thể giảm thiểu tần suất mỗi đợt bùng phát, giúp các triệu chứng nhanh khỏi hơn và giảm nguy cơ xảy ra biến chứng.

Cần đi khám bác sĩ ngay lập tức nếu đang trong thời gian tái phát triệu chứng mụn rộp và phát triển các biểu hiện bất thường.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây