Xử trí tắc động mạch phổi - bệnh viện 103
Tắc động mạch phổi (TĐMP)
- Là tình trạng cấp cứu tối khẩn, phụ thuộc rất lớn vào yếu tố thời gian bởi nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao.
- Hay còn gọi là thuyên tắc mạch phổi, là hiện tượng tắc của ĐMP chính hoặc một trong các nhánh của nó.
- TĐMP cấp là tình trạng cấp cứu đòi hỏi được chẩn đoán và điều trị kịp thời vì có thể dẫn đến nguy cơ tử vong cao.
- Tuy nhiên trên thực tế, chẩn đoán còn gặp nhiều khó khăn do các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thường quy không điển hình.
Yếu tố nguy cơ
- TĐMP là một biến chứng thường gặp của viêm tắc tĩnh mạch sâu, thống kê cho thấy hơn 50% trường hợp TĐMP chụp tĩnh mạch có viêm tắc tĩnh mạch sâu.
- Các yếu tố nguy cơ: bất động kéo dài, thời gian hậu phẫu trong vòng 3 tháng, tai biến mạch não, liệt nửa người, liệt 2 chân, tiền sử viêm tắc tĩnh mạch, ung thư, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm trong vòng 3 tháng
Chẩn đoán
- Ngoài một số cận lâm sàng như điện tâm đồ, X-quang tim phổi thì các biện pháp sau đây giúp phát hiện bệnh chính xác hơn như:
- Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới: Có thể được dùng để chẩn đoán gián tiếp trong các trường hợp nghi ngờ TĐMP, nếu phát hiện viêm tắc tĩnh mạch sâu thì điều trị như TĐMP cấp.
- Chụp mạch phổi: Được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán TĐMP cấp.
- Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (chụp MsCT) phổi: Độ đặc hiệu cao, an toàn, nhanh chóng, chẩn đoán được các cấp cứu khác của lồng ngực.
- Siêu âm tim: Các bất thường trên siêu âm tim có thể gặp như tăng kích thước thất phải, giảm chức năng thất phải, hở van ba lá.
Xử trí
Hồi sức:
- Cần ổn định bệnh nhân, thở oxy nồng độ cao, có thể thở máy qua NKQ.
- Truyền dịch natriclorua 0,9%, nếu truyền dịch mà không giúp cải thiện huyết động thì tiến hành cho thuốc vận mạch.
Bất động:
- Với TĐMP thì bệnh nhân cần bất động tại chỗ 24-48 giờ.
Thuốc chống đông:
- Cho ngay thuốc chống đông khi điểm Wells > 4 và không có nguy cơ chảy máu.
- Vì thực tế nếu không được điều trị, tỷ lệ tử vong là 30% do tái phát, trong khi đó, tử vong do chảy máu chỉ < 3%.
- Nguy cơ TĐMP tái phát 25% nếu liều chống đông không đủ hoặc không đạt được ngưỡng điều trị trong 24 giờ đầu tiên.
Thuốc tiêu sợi huyết:
- Mặc dù còn chưa nhiều nghiên cứu đủ lớn khẳng định cải thiện tỷ lệ tử vong do TĐMP nặng của thuốc tiêu sợi huyết, tuy nhiên, giúp cải thiện về mặt huyết động và sinh lý tuần hoàn, hầu hết các bác sĩ lâm sàng chấp nhận chỉ định dùng tiêu sợi huyết cho TĐMP nặng.
Phin lọc tĩnh mạch chủ dưới:
- Thiết bị giúp ngăn huyết khối di chuyển từ tĩnh mạch khung chậu hoặc tĩnh mạch chi dưới lên phổi.
- Chỉ định khi có chống chỉ định tuyệt đối với thuốc chống đông;
- TĐMP tái phát mặc dù đã dùng thuốc chống đông phù hợp;
- Biến chứng thuốc chống đông.
- Biến chứng khi đặt phin lọc thường hiếm, tuy nhiên có thể gặp như: đặt sai vị trí, phin trôi, hoại tử và rách thành tĩnh mạch chủ dưới và tắc phin do huyết khối.
Lấy bỏ huyết khối (qua catheter hoặc phẫu thuật):
- Lấy huyết khối được cân nhắc khi TĐMP nặng có chỉ định tiêu sợi huyết nhưng thất bại hoặc chống chỉ định.
Nguồn: Bệnh viện 103
Các loại thuốc điều trị thuyên tắc phổi (PE) có tác dụng làm giảm kích thước cục máu đông, giúp làm tan hoặc ngăn ngừa cục máu đông tái phát. Tuy nhiên, tất cả các loại thuốc này đều có nguy cơ gây chảy máu.
Thuyên tắc phổi (PE) thường được điều trị bằng cách sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật, tùy thuộc vào kích thước của cục máu đông, biến chứng có thể xảy ra và nguy cơ hình thành cục máu đông mới trong tương lai.
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng cục máu đông hình thành trong phổi do nhiều nguyên nhân. Phần lớn các trường hợp bị thuyên tắc phổi xuất phát từ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), tình trạng cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu của cơ thể.
Thuyên tắc phổi (PE) xảy ra khi một phần của cục máu đông từ tĩnh mạch sâu di chuyển đến phổi, gây tắc nghẽn mạch máu. Đây là một dạng của huyết khối tĩnh mạch (VTE).
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.





