Xử trí ngộ độc thuốc tê
1. Các triệu chứng của ngộ độc thuốc tê
Cần nghĩ ngay để ngộ độc thuốc tê trong và sau khi gây tê nếu bệnh nhân có các triệu chứng sau:
Triệu chứng thần kinh trung ương:
- Đắng miệng, tê quanh miệng, ù tai, nhìn mờ
- Có các kích thích như nói nhảm, lú lẫn, kích động, rung hoặc co giật
- Có các dấu hiệu ức chế như ngủ lơ mơ, đờ đẫn, hôn mê hoặc ngưng thở
Triệu chứng tim mạch:
- Rối loạn dẫn truyền và nhịp tim, thậm chí ngừng tim
- Huyết áp tụt kẹt
2. Chẩn đoán xác định ngộ độc thuốc tê như thế nào?
Cập nhật chẩn đoán ngộ độc thuốc tê của Hội hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam năm 2018 gồm có:
- Có tới hơn 50% các trường hợp ngộ độc không điển hình: bệnh nhân không co giật, chỉ có triệu chứng tim mạch hoặc khởi phát chậm
- Các trường hợp điển hình sẽ có các triệu chứng như tê quanh miệng, ù tai, kích thích, rối loạn thần kinh, lẫn lộn, co giật và hôn mê
- Hệ tim mạch khởi đầu sẽ có tăng huyết áp, nhịp nhanh rồi lại hạ huyết áp, nhịp chậm kèm rối loạn nhịp thất, vô tâm thu
- Hệ thần kinh trung ương có các triệu chứng như kích thích (lo lắng, khó nói, co giật), ức chế (ngủ gà, đáp ứng chậm, hôn mê) và các triệu chứng không đặc hiệu khác (vị kim loại trong miệng, tê, nhìn đôi, hoa mắt)
- Nếu là các rối loạn sớm sẽ xuất hiện trong vòng 1 phút sau khi tiêm thuốc tê, nếu muộn sẽ rơi vào khoảng 1 giờ sau khi tiêm thuốc tê.
Bác sĩ và kỹ thuật viên gây mê cần phải nghĩ tới ngộ độc thuốc tê ở bất kỳ bệnh nhân nào có thay đổi về ý thức và triệu chứng bất thường về tim mạch, thần kinh. Triệu chứng tim mạch đôi khi có thể là biểu hiện duy nhất của ngộ độc. Không chủ quan trong mọi trường hợp kể cả:
- Liều thuốc tê được sử dụng là liều thấp, bệnh nhân có thể quá nhạy cảm
- Đường dùng thuốc không điển hình
- Do phẫu thuật viên trực tiếp tiêm
- Sau khi tháo garo trong gây tê tĩnh mạch
3. Các yếu tố nguy cơ của ngộ độc thuốc tê
- Người bệnh là trẻ em, người già yếu, suy kiệt hoặc có các bệnh về tim mạch như suy tim, rối loạn dẫn truyền, protein máu thấp
- Bệnh nhân lớn tuổi dễ có rối loạn chức năng tạng
- Trẻ em được gây tê hầu hết khi đã gây mê dẫn tới không nhận biết được các triệu chứng sớm, biểu hiện tim mạch hoặc hệ thần kinh trung ương làm bị động trong công tác xử trí
- Các thuốc tê tan trong mỡ có nguy cơ cao gây ngộ độc hơn
- Tổng liều thuốc tê hoặc liều/kg cao làm tăng nguy cơ ngộ độc thuốc tê
- Bệnh nhân suy tim mất bù, bệnh van tim nặng
- Vị trí gây tê nhiều mạch máu.
4. Cấp cứu ngộ độc thuốc tê như thế nào?
Lipid 20% là thuốc dùng đầu tiên, chủ yếu và quan trọng nhất trong cấp cứu ngộ độc thuốc tê. Nhân viên y tế cần thực hiện các bước sau để xử trí một ca ngộ độc thuốc tê:
- Đầu tiên cần ngừng tiêm thuốc tê ngay lập tức
- Gọi hỗ trợ nếu cần thiết
- Sử dụng hộp cấp cứu ngộ độc thuốc tê, truyền lipid 20%
- Kiểm soát đường thở bằng cách cho bệnh nhân thở oxy 100% hoặc đặt nội khí quản thở máy nếu cần
- Dùng lipid 20% như sau: tiêm tĩnh mạch 1,5 nl/kg trong 2-3 phút sau đó truyền duy trì 0,25 ml/kg/phút. Nếu tình trạng bệnh nhân vẫn không ổn định thì cần tiêm nhắc lại 1-2 lần với liều tương tự và gấp đôi tốc độ truyền duy trì. Tổng liều không được vượt quá 12 ml/kg hay 1000 ml trong 30 phút.
- Điều trị co giật cho bệnh nhân bằng Benzodiazepin, tránh dùng Propofol nhất là ở bệnh nhân có huyết động không ổn định
- Điều trị nhịp chậm bằng Atropin
- Nếu bệnh nhân ngừng tim do ngộ độc thuốc tê cần hồi sinh tim phổi, gọi đơn vị tim phổi nhân tạo và sẵn sàng hồi sức kéo dài. Dùng rung thất (sốc điện) đặc biệt không dùng Vasopressin, thuốc chẹn kênh Calci, thuốc ức chế Beta hoặc các loại thuốc tê khác.
- Tiếp tục theo dõi bệnh nhân trong 4-6 giờ tiếp theo nếu có biến cố tim mạch hoặc ít nhất 2 giờ nếu có biến cố thần kinh trung ương.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.





