Xét nghiệm amylase trong viêm tụy cấp
1. Amylase là gì?
Amylase là một nhóm các enzym được sản xuất chủ yếu ở tuyến tụy và tuyến nước bọt, một phần nhỏ được sản xuất ở gan, niêm mạc ruột non, vòi trứng và buồng trứng. Enzym amylase giúp phân giải các carbonhydrat phức tạp thành các carbonhydrat đơn giản mà cơ thể có thể hấp thu được. Bình thường amylase có trong máu, nước tiểu và một số dịch sinh học khác như nước bọt, dịch cổ trướng với nồng độ thấp. Amylase thải trừ qua đường nước tiểu. Trị số amylase bình thường trong máu là 22-80 U/L, trị số amylase trong nước tiểu là 42-32 U/L.
2. Tại sao amylase tăng cao trong viêm tụy cấp?
Viêm tụy cấp là một quá trình tự hủy các mô tụy của chính các men tụy. Các men tụy bình thường được sản xuất để tiêu hóa thức ăn như amylase, lipase, trypsin,...khi ở tụy các men này tồn tại ở dạng tiền chất và chỉ được hoạt hóa khi xuống tá tràng. Tuy nhiên khi gặp các yếu tố thuận lợi cho khởi phát viêm tụy cấp, các tế bào nang tụy tăng đáp ứng với các chất kích ứng thì quá trình hoạt hóa men tụy sẽ được xảy ra ngay trong mô tụy.
Các men tụy trong đó có amylase sẽ gây tổn thương tại chỗ, các men cũng được hấp thu vào tuần hoàn qua các mạch máu quanh tuyến tụy...Nồng độ amylase sẽ tăng trong máu và nước tiểu sẽ tăng cao nhiều lần so với bình thường.
3. Những điều cần biết về xét nghiệm amylase trong viêm tụy cấp
3.1 Xét nghiệm amylase là gì?
Xét nghiệm amylase được dùng để đo lượng enzyme amylase trong máu hoặc trong nước tiểu. Trong viêm tụy cấp,nồng độ amylase trong máu chỉ tăng trong một thời gian ngắn (2-3 ngày), nồng độ amylase trong nước tiểu có thể tăng trong thời gian kéo dài hơn (7-10 ngày).
3.2 Xét nghiệm amylase được chỉ định khi nào?
Xét nghiệm amylase thường được chỉ định cùng xét nghiệm lipase để chẩn đoán và đánh giá hiệu quả điều trị các bệnh viêm tụy cấp tính, đợt cấp của viêm tụy mạn tính và các bệnh lý khác về tuyến tụy, tắc mật, sỏi ống mật chủ, cường giáp, có thai, chửa ngoài tử cung vỡ, viêm nhiễm tuyến nước bọt, quai bị ...
Xét nghiệm amylase huyết thanh thường được chỉ định để phân biệt tình trạng đau bụng do viêm tụy cấp với các tình trạng đau bụng do các nguyên nhân khác. Tuy nhiên, hoạt độ amylase huyết thanh sẽ trở về bình thường sau 2-3 ngày từ khi bắt đầu tăng, hoạt độ amylase niệu tăng cao kéo dài 7-10 ngày, do đó xét nghiệm amylase niệu được chỉ định để xác định có viêm tụy cấp khi amylase huyết thanh đã trở về bình thường.
Ngoài ra, xét nghiệm amylase còn được chỉ định để chẩn đoán và theo dõi tình trạng viêm, tắc tuyến nước bọt và viêm trong ổ bụng.
3.3 Amylase tăng trong những trường hợp nào?
Xét nghiệm amylase tăng cao trong viêm tụy cấp tính hoặc mạn tính, trong các bệnh lý tuyến tụy khác như tắc nghẽn ống tụy, ung thư tuyến tụy,...
Ngoài ra, amylase còn tăng cao khi ngộ độc rượu cấp, các bệnh lý đường mật như sỏi mật, viêm túi mật cấp, suy thận giai đoạn cuối, viêm tuyến nước bọt cấp tính hoặc mạn tính, tắc nghẽn ống dẫn nước bọt, quai bị.
3.4 Amylase giảm trong những trường hợp nào?
Nếu một bệnh nhân bị viêm tụy nhưng nồng độ amylase lại giảm, có thể các tế bào sản xuất amylase trong tuyến tụy của bệnh nhân đã bị tổn thương vĩnh viễn.
Amylase còn giảm trong các trường hợp tổn thương gan nặng như viêm gan, xơ gan,, trong nhiễm độc thai nghén, ung thư tuyến tụy, nhiễm độc giáp nặng và bỏng nặng.
3.5 Các yếu tố làm thay đổi kết quả xét nghiệm
Kết quả xét nghiệm amylase có thể thay đổi nếu:
- Mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu
- Mẫu bệnh phẩm nhiễm nước bọt có thể gây tăng giả tạo kết quả amylase máu.
- Bệnh nhân có tình trạng tăng triglycerid > 5 lần so với bình thường sẽ gây ức chế hoạt độ enzyme
- Suy thận cũng có thể gây tăng vừa hoạt độ amylase máu.
- Bệnh nhân sử dụng một số thuốc làm tăng hoạt độ amylase huyết thanh như acetaminophen, paracetamol, corticoid, aspirin, estrogen, furosemid, các thuốc lợi tiểu thiazid ... Các thuốc làm tăng hoạt độ amylase niệu như rượu, codein, aspirin, morphin, các thuốc lợi tiểu thiazid,...
- Bệnh nhân sử dụng các thuốc làm giảm hoạt độ amylase huyết thanh như glucose, citrat, oxalat. Các thuốc làm giảm hoạt độ amylase niệu là fluorid, glucose.
4. Các lưu ý với bệnh nhân khi xét nghiệm amylase
- Trong vòng 24 giờ trước khi xét nghiệm amylase, bệnh nhân không được uống rượu. Trước khi xét nghiệm 2 giờ, bệnh nhân không được ăn uống gì ngoại trừ nước lọc.
- Nếu xét nghiệm amylase niệu, bệnh nhân nên uống nhiều nước.
- Nên thông báo với bác sĩ các thuốc đang sử dụng vì chúng có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.
Viêm thực quản là tình trạng viêm xảy ra ở mô thực quản - ống cơ đưa thức ăn từ miệng xuống dạ dày.





