Viêm xương - bệnh viện 103
1.Đại Cương
Xương là một dạng đặc biệt của tổ chức liên kết mà chất căn bản của nó nhiễm canxi nên rất cứng .
Thành phần tế bào của xương gồm các tế bào xương ( osteocyte ) , tạo cốt bào (osteoblast ) và huỷ cốt bào (osteoclast ) . Chất gian bào của xương gồm có chất hữu cơ (33%) và vô cơ ( 67 % ) , chất hữu cơ là loại collagen typ I , một số glycoprotein (osteonectin , osteocanxi ) có khả năng liên kết collagen với muối khoáng và canxi , kali , natri ….
Quá trình tạo xương gồm : tạo xương trực tiếp từ trung mô ( tạo xương trong màng ) và tạo xương trên mô hình sụn .
Quá trình tiêu xương ( sửa sang xương ) gồm .
- Tiêu xương : trong quá trình phát triển xương , từ trong ống tuỷ mạch máu mang theo mô liên kết có cả tạo cốt bào và huỷ cốt bào tiến ra phía thành xương , đào những đường hầm hình ống chạy dọc và ngang lớp xương cốt mạc .
- Sau đó tạo cốt bào đến bám vào thành đường hầm để tạo những lá xương đồng tâm làm cho lòng ống hẹp lại và tạo thành các ống xương . Mỗi ống là một trụ xương (osteon ) có các lá xương đồng tâm bao quanh một ống nhỏ gọi là ống Have , công việc sửa sang đến 20-25 tuổi thì dừng lại .
- Phá hủy thành hố : do các huỷ cốt bào phá huỷ sụn để tạo các hốc tuỷ trong xương xốp .
Để thấy rõ quá trình diễn biến nói trên có thể lấy sự hình thành của một can (cal) xương làm ví dụ điển hình .
Tạo cốt bào thường ở trong màng xương và ở nơi xương đang phát triển là các tế bào hình đa diện , có một nhân và hệ bào quan chứa nhiều các enzym , tạo cốt bào thường bám vào bề mặt các mảnh xương đang phát triển tổng hợp các thành phần của chất căn bản để tạo lá xương và tự vùi trong đó để trở thành tế bào xương .
Huỷ cốt bào là các tế bào phá huỷ chất căn bản của xương và sụn tế bào có kích thước lớn và và có nhiều nhan (vài chục nhân ) là tế bào hay gặp ở nơi xương đang phát triển .
Sau một vài tuần hoặc một vài tháng, do hai quá trình tiêu xương và tạo xương hoạt động liên tục , can xương nguyên thủy chở thành can xương vĩnh viễn , có kiên trúc rõ rệt thích hợp với chức năng tại chỗ của nó . Những diễn biến nói trên là diễn biến của một can xương được cố định tốt.
2. Viêm màng xương .
2- 1. Nguyên nhân:
- Chấn thương vi khuẩn qua đường vết htương tác động trực tiếp vào vết thương đặc biệt là các vết thương gẫy xương hở
- Ổ viêm ở gần đó lan vào (sâu răng hay viêm màng xương hàm, viêm tủy xương lan ra màng xương).
- Viêm đi theo đường máu vi khuẩn có thể từ một ổ nhiễm khuẩn nào dó trong cơ thể như viêm bể thận thận , lao , viêm màng xương trong bệnh thương hàn .
2-2. Tổn thương:
Viêm mủ cấp .
Viêm tạo nên một ổ mủ nằm sát với xương. Nếu mủ không đục lỗ rò qua màng xương để thoát ra ngoài thì mủ sẽ chuyển qua các ống Havers mà vào tủy xương gây viêm xương tủy.
Viêm kéo dài .
- Do viêm cấp điều tri không dứt điểm , viêm sẽ âm ỉ kéo dài làm tổn thương ở xương và gây tiêu xương.
- Một tổ chức liên kết non sẽ được thay thế vào đó.
- Tổ chức này sẽ nhanh chóng cốt hóa làm cho mặt xương sù sì tạo thành nhưng khối xương mới nham nhở.
3. Viêm xương tuỷ xương (OSTEOMYELITIS)
Viêm xương tuỷ xương là bệnh nhiễm trùng xương , tuỷ xương . Phân loại bệnh có thể dựa theo nguyên nhân , đường lây nhiễm , giai đoạn hay vị trí giải phẫu nơi bị viêm .
3-1.Nguyên nhân:
- Viêm xương tuỷ thường do vi khuẩn sinh mủ Staphylococcus aureus hay mycobacteria và nấm ( hai loại nấm hay gây bệnh là Blastomyces dermatitidis và Coccidioides immitis ). Ngoài ra viêm xương ở cột sống do vi khuẩn lao cũng hay gặp .
- Bệnh thường ở trẻ em và người có tuổi , vi khuẩn xâm nhập vào tuỷ xương và gây tổn thương thường qua hai đường chính là đường máu và đường trực tiếp qua vết thương gãy xương hở , sau thay thế khớp hoặc làm các thủ thuật ngoại khoa .
- Hoặc từ các ổ viêm nhiễm gần xương phát triển vào ( các ổ viêm da, nhọt đầu đanh ) .
- Do tính chất cung cấp máu của xương . người ta hay gặp viêm tủy xương ở các xương chày , xương đùi , xương cánh tay , xương sống , xương hàm trên , hàm dưới là các xương đặc biệt dễ bị mắc bệnh . Lan truyền theo đường máu hay gặp ở trẻ em ( >90%) .
3-2.Tổn thương :
- Đầu tiên vi khuẩn nằm ở vùng xương xốp và gây lan vào tủy xương . Sau khi xâm nhập vào xương , bạch cầu đa nhân trung tính đến khu vực tổn thương , ở đó hình thành phản ứng viêm . Ở giai đoạn này viêm có thể tự khỏi hoặc nếu vết thương được mở ra ngoài thì cũng sẽ dễ khỏi .
- Nếu viêm còn tiến triển, sẽ tạo nên ổ áp xe trong tủy, mủ từ tủy xương sẽ theo các ống Havers đi ra dưới màng xương.
- Do viêm đi như vậy, các mạch máu trong các ống Havers sẽ bị tắc và xương vùng đó không được nuôi dưỡng do đó nó sẽ hoại tử ( xương chết ). Sau đó, mủ tiếp tục tiến ra ngoài, đục thùng màng xương tạo nên các lỗ rò.
- Lúc này viêm cấp giảm dần tạo điều kiện cho tổ chức hạt phát triển ở ranh giới của phần xương lành và ổ viêm. Như vậy tổ chức hạt vây quanh lấy vùng xương chết. Những mao mạch tân tạo của tổ chức hạt xuyên vào xương chết làm cho nó tách rời khỏi xương lành và trở thành những mảnh xương chết .
Thực ra hầu như bao giờ chúng cũng là viêm mạn tính, chỉ khác nhau ở cách bệnh bắt đầu đột ngột với diễn biến cấp tính hoặc bắt đầu âm thầm với diễn biến mạn tính mà thôi .
Nguồn: Bệnh viện 103
Những người có nguy cơ mắc bệnh loãng xương được khuyến nghị đo mật độ xương 2 năm một lần. Phương pháp đo mật độ xương phổ biến nhất là DEXA nhưng ngoài ra còn một lựa chọn khác là QCT.
Loãng xương là một vấn đề về xương phổ biến, xảy ra khi mật độ hay khối lượng xương giảm, khiến xương trở nên suy yếu và dễ gãy.
Loãng xương khiến xương trở nên giòn, yếu và dễ gãy hơn. Các xương có nguy cơ bị gãy cao nhất là xương hông, cổ tay và cột sống. Gãy những xương này cần được điều trị đặc biệt.
Khi bị gãy xương do loãng xương, giải pháp điều trị thường là phẫu thuật. Vật lý trị liệu, tập thể dục và bổ sung canxi cũng là những điều cần thiết để khôi phục khả năng vận động và giảm nguy cơ gãy xương trong tương lai.
Loãng xương và thiếu xương đều là những vấn đề về xương. Sự khác biệt giữa hai tình trạng này là ở mức độ giảm mật độ xương. Cùng tìm hiểu về sự khác biệt giữa loãng xương và thiếu xương, ai có nguy cơ mắc phải cũng như những bước cần thực hiện để bảo vệ sức khỏe xương.





